HAI NHÂN VẬT NGUYỄN DOÃN KHÂM VÀ NGUYỄN QUÝ LƯƠNG

Thứ năm - 12/12/2024 05:03 237 0

HAI NHÂN VẬT NGUYỄN DOÃN KHÂM VÀ NGUYỄN QUÝ LƯƠNG

HAI NHÂN VẬT NGUYỄN DOÃN KHÂM VÀ NGUYỄN QUÝ LƯƠNG

HAI NHÂN VẬT
NGUYỄN DOÃN KHÂM VÀ NGUYỄN QUÝ LƯƠNG

Trong quá trình nghiên cứu về dòng họ Nguyễn Duy, chúng tôi thấy rằng: Dòng họ Nguyễn Duy có hai danh nhân có đóng góp đáng kể trong lịch sử dân tộc. Song, xét về nguồn gốc của hai nhân vật này thì còn có nhiều tranh cãi. Và hiện nay, bản thân con cháu dòng họ Nguyễn Duy đời sau và nhiều nhà nghiên cứu vẫn thừa nhận hai ông thuộc dòng dõi Nguyễn Duy ở Đông Linh. Tuy nhiên, trong tộc phả họ Nguyễn Duy lại không thấy tên của hai danh nhân này. Để làm rõ hơn về vấn đề này, chúng tôi xin trích dẫn một số cứ liệu liên quan đến hai quan điểm nhận định nêu trên.
1. Nguyễn Doãn Khâm:
Nguyễn Doãn Khâm sinh năm Kỷ Dậu (1489) triều Lê Thánh Tông, niên hiệu Hồng Đức thứ 20. Cụ đỗ Hoàng Giáp khoa Giáp Tuất (1514) triều Lê Tương Dực niên hiệu Hồng Thuận thứ 6 khi 26 tuổi trong kỳ thi này có tổng số 5.700 người dự thi (tr59 cuốn hỏi đáp về 82 bia tiến sĩ tại Văn Miếu-Quốc Tử Giám, do Lê Thái Dương Biên soạn, nhà xuất bản Dân trí năm 2024). Thi đỗ xong cụ ra nhận chức Hàn lâm viện triều Lê (làm quan đến chức Lễ bộ Tả thị lang: stt128, tr301 cuốn các vị Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa qua các Triều đại Việt Nam tác giả Trần Hồng Đức, NXB Hồng Đức năm 2018). Làm việc vài năm cụ thấy chính sự rối ren bèn xin về dạy học ở Quốc Tử Giám. Khi nhà Mạc lên cầm quyền có chiếu vời cụ ra làm quan, cụ giữ chức Lại bộ thượng thư tả thị lang. Khi tuổi già hưu quan về quê dạy học. Tháng mười năm Giáp Thân (12/1584) khi cụ đã 95 tuổi vua Mạc lại vời ra và cử đi xứ bộ Trung Quốc. Ngày 14 tháng 1 năm Qúy Tỵ (5/3/1593) gia đình cụ chạy theo vua Mạc Kính đến huyện Chí linh thì bị Tiết chế Trịnh Tùng bắt được cùng hàng trăm quan quân triều Mạc. Ngày 27 tháng 1 bị giết ở Thảo Tân, riêng cụ tuổi cao nên được tha nhưng cũng chết vì uất ức. Nguyễn Doãn Khâm là đóa hoa thơm về tấm lòng trung nghĩa xứng đáng là tấm giương cho đời sau noi theo.
2. Nguyễn Qúy Lương:
Nguyễn Qúy Lương tự La Khê, sinh năm Kỷ Mùi (1499) triều Lê Hiến Tông, niên hiệu Cảnh Thống thứ hai Ông đỗ đồng tiến sĩ khoa Kỷ Sửu (1529) niên hiệu Minh Đức năm thứ 3 đời Mạc Thái Tổ (Mạc Đăng Dung; tr103 cuốn hỏi đáp về 82 bia tiến sĩ tại Văn Miếu-Quốc Tử Giám, do Lê Thái Dương Biên soạn, nhà xuất bản Dân trí năm 2024) khoa thi đầu tiên của nhà Mạc trong kỳ thi này có tổng số 4.000 người dự thi (tr59 cuốn hỏi đáp về 82 bia tiến sĩ tại Văn Miếu-Quốc Tử Giám, do Lê Thái Dương Biên soạn, nhà xuất bản Dân trí năm 2024). Sau khi thi đỗ ông được bổ chức Gíao thụ kiêm tham chính xứ Cao Bằng từ năm 1530 đến năm 1536 (làm quan đến chức Tham chính: stt667, tr340 cuốn các vị Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa qua các Triều đại Việt Nam tác giả Trần Hồng Đức, NXB Hồng Đức năm 2018)
Sau đó ông lại được cử về trấn thủ Tuyên Quang nhiều năm, trong thời gian làm quan của mình ông luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ, có công lao to lớn trong việc mở mang giáo hóa cho nhân dân và lập lại kỷ cương ở Cao Bằng. Không những thế ông còn là một ông quan có đức, nhân hậu và thanh liêm. Ông được Mạc Đăng Doanh gia tăng hàm Đại phu. Khi hưu quan về quê ông lại làm nghề dạy học, sống cuộc sống thanh bạch. Ngày ông mất là ngày 6/9 Âl
3. Về nguồn gốc của hai cụ:
Do gia phả gốc của dòng họ Nguyễn Duy bị đốt cháy trong cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Hữu Cầu (1741 - 1751), mãi đến những năm cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX cháu đời thứ bảy của cụ thủy tổ Nguyễn Duy Thuần mới phụng soạn lại gia phả thì chỉ còn nghi chép lại được từ đời cụ Nguyễn Duy Thuần và lấy đây là đời thứ nhất. Vì vậy vấn đề nguồn gốc dòng họ Nguyễn Duy đến nay vẫn còn nhiều điều cần làm sáng tỏ, đặc biệt là về thân thế của hai cụ Nguyễn Doãn Khâm và Nguyễn Qúy Lương. Trong những năm qua, trong dòng họ Nguyễn Duy tồn tại hai ý kiến đối lập nhau về thân thế của hai cụ. Mỗi ý kiến lại có những cơ sở riêng:
- Một số đông con cháu công nhận hai cụ Nguyễn Doãn Khâm và Nguyễn Qúy Lương thuộc dòng họ Nguyễn Duy.
Những người theo lập trường này đã mất nhiều năm đi tìm những chứng cứ để chứng minh vấn đề trên. Với một lòng nhiệt huyết họ đã vượt qua biết bao khó khăn để tìm ra một số chứng cứ chứng minh mối quan hệ ràng buộc giữa hai cụ Nguyễn Doãn Khâm và Nguyễn Qúy Lương với dòng họ Nguyễn Duy.
Trong “Trạng nghè ở Thái Bình”, phần viết về Hoàng giáp Nguyễn Duy Hoà có đoạn viết: “Tại Cao Bằng, ông cùng em ruột là Nguyễn Qúy Lương (người đỗ sớm nhất triều Mạc ở Thái Bình) dốc sức vào lo liệu bố phòng biên giới và mở mang giáp hóa cho nhân dân” [15, tr.54].
Trong “Ngàn năm đất và người Thái Bình” có viết: “Hai anh em Nguyễn Qúy Lương và Nguyễn Duy Hòa từng vác lều chõng lên kinh thi khi Mạc Đăng Dung chưa tiếm ngôi nhưng “nấu sử sôi kinh” chưa chín nên chưa chiếm được võng giá vua ban để vinh quy và phải dự kỳ thi đầu tiên do nhà Mạc tổ chức” [18, tr.82].
Dựa vào hai tài liệu trên ta có thể thấy được mối quan hệ ruột thịt giữa hai cụ Nguyễn Duy Hòa và Nguyễn Qúy Lương.
Lại theo tộc phả họ Vũ Đình ở làng Tô Xuyên (xã An Mỹ, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình) thì cụ Nguyễn Doãn Khâm không có con trai nên nhận nuôi con trai của người anh ruột tên là Nguyễn Quý Lương. Cụ Nguyễn Quý Lương chỉ có hai người con gái. Người con gái lớn là bà Nguyễn Thị Kỳ lấy ông Vũ Ảm - người họ Vũ Đình ở Tô Xuyên. Khi hai cụ mất, do không có con trai nên họ Vũ Đình đã thờ phụng hai cụ. Đến đời thứ tám họ Vũ Đình đã cử ông Vũ Tiến Thận lên Đông Linh làm nhà thờ phụng hai cụ, vì cụ Nguyễn Qúy Lương vẫn còn mảnh đất 10 miếng ở ngay bên cạnh từ đường họ Nguyễn Duy.
Như vậy, từ các chứng cứ trên đã đi đến kết luận: Hai cụ Nguyễn Doãn Khâm và Nguyễn Qúy Lương là người trong dòng họ Nguyễn Duy là có căn cứ. Hơn nữa trong quá trình tìm hiểu gia phả dòng họ Nguyễn Duy tôi có thấy một trường hợp đặt tên lót không phải là chữ Duy mà là chữ Qúy. Đó là trường  hợp cụ Nguyễn Qúy Vũ (cháu đời thứ 6). Tuy trường hợp này không nhiều nhưng theo tôi cũng là một minh chứng về mối liên hệ giữa cụ Nguyễn Qúy Lương với dòng họ Nguyễn Duy.
- Đối lập với ý kiến trên thì lại cho rằng hai cụ không thuộc dòng họ Nguyến Duy. Bởi vì tên hai cụ không có trong gia phả của dòng họ.
Việc xác định thân thế của hai cụ Nguyễn Doãn Khâm và Nguyễn Qúy Lương là một vấn đề nhạy cảm và cần thiết để có thể trả lại vị trí xứng đáng cho hai cụ. Tuy nhiên, đây là một công việc cần nhiều thời gian cũng như công sức để có thể đưa ra được những chứng cứ xác thực và thuyết phục hơn nữa đối với tất cả thành viên trong dòng họ Nguyễn Duy.

VĂN BIA ĐỀ DANH TIẾN SĨ KHOA KỶ SỬU
niên hiệu Minh Đức năm thứ 3 (1529)

Hoàng thượng lên ngôi báu đã 3 năm, mở ra vận hội trời đất văn minh. Gặp năm mở khoa thi lớn, sĩ tử hát thơ Lộc minh tới kinh đô ứng thí đông đến 4.000 người, cùng nhau tranh đua tài nghệ chốn xuân vi, chọn được hạng xuất sắc 27 người.
Ngày 18 tháng 2, Hoàng thượng ngự ở hiên điện, đích thân ra đề văn sách hỏi về đạo trị nước. Sai Đề điệu là Thái bảo Diệm quốc công Mạc Kim Phiêu, Binh bộ Thượng thư Khánh Khê hầu Mạc Ninh Chỉ cùng các quan hữu ti chia giữ các việc.
Hôm sau quan Độc quyển là Lễ bộ Thượng thư Đông các Đại học sĩ Văn Đàm bá Nguyễn Thanh, Lại bộ Thượng thư Quốc tử giám Tế tửu Bỉnh Lễ bá Đinh Trinh dâng quyển đọc. Hoàng thượng xem xét, định thứ bậc cao thấp. Ban cho bọn Đỗ Tông 3 người đỗ Tiến sĩ cập đệ, bọn Nguyễn Vân Quang 8 người đỗ Tiến sĩ xuất thân, bọn Nguyễn Hữu Hoán 16 người đỗ đồng Tiến sĩ xuất thân.
Ngày 24, Hoàng thượng ngự điện Kính Thiên, sai gọi loa xướng tên người đỗ. Bộ Lại ban ân mệnh, bộ Lễ rước bảng vàng treo trước cửa nhà Thái học. Ngày hôm đó lại ban cho tiền bạc có thứ bậc khác nhau. Ngày 27 ban cân đai áo mũ nhiều hơn lệ thường. Ngày 28 ban yến tại Bộ Lễ. Ngày mồng 7 tháng 3 cho phép vinh qui, ban tiền theo thứ bậc khác nhau, ơn huệ thật nồng hậu. Hoàng thượng lại sai quan Bộ Công mài đá, từ thần soạn bài ký. Bọn thần kính vâng mệnh sáng, chúc mừng cho nền tư văn, cung kính cúi đầu rập đầu dâng lời rằng:
Khí chân nguyên hòa hợp thì hào kiệt xuất hiện trong thiên hạ, vua sáng tôi hiền gặp gỡ, cơ trời cảm ứng, há phải chuyện tình cờ. Nhưng kẻ sĩ hào kiệt do khoa mục tiến thân kể từ họ Hữu Ngu1 hỏi quan nhạc mục mà ý tốt mở khoa mục bắt đầu, đời Thành Chu cất nhắc nhân tài mà phép tốt khoa mục gây mầm từ đó. Từ đời Hán đến Đường, Tống cùng là các bậc anh minh của nước Việt ta đều lấy việc đó làm bậc thang cho hào kiệt tiến thân.
Kính nghĩ thánh triều: Thánh thiên tử 2 sẵn tư chất hơn đời, nắm vận hội lớn, đem võ công dẹp yên thiên hạ, phô bày văn giáo để đào tạo nhân tài, sửa sang trường học để rộng đường nuôi dưỡng vui vầy giáo hóa, ban học qui để chấn chỉnh tác thành, tô điểm nhân văn, đổi mới khoa mục. Phàm quy chế thi cử, ơn vinh ban thưởng theo thứ bậc, so với thủa xưa thực rõ ràng đầy đủ.
Kẻ sĩ được gặp gỡ vua thánh anh minh, gội nhuần giáo hóa, dự vào hạng anh hùng, bước vào đường vinh hiển, lại được nêu họ tên lâu dài trên bia đá, há chẳng vẻ vang may mắn lắm sao? Vậy nên mang đội ơn sâu, dốc lòng thực tiễn, lấy trung liêm dồi tiết cứng, lấy lễ nghĩa làm phép thường, giữ lòng thẳng thắn, chẳng lệch chẳng xiên, làm nên sự nghiệp lớn lao bền vững. Phải làm sao như Lã Văn Dương lấy chính đạo giữ mình mà giúp cuộc thịnh trị trong đời thái bình hữu đạo, như Hàn Ngụy Công áo mũ chầu vua mà thiên hạ yên như bàn thạch; khiến mọi người phải ca ngợi là vị Trạng nguyên chân chính, vị Tiến sĩ lừng danh. Được như thế trên không phụ thánh thiên tử cho đặt khoa thi, dưới không phụ với sở học thường ngày, thì công lao sự nghiệp vĩ đại quang minh sẽ làm rạng rỡ cho tấm đá này. Thảng hoặc có người ngoài vuông nhưng trong tròn, trước trinh trắng mà sau tì vết, điều nhìn thấy không đúng với điều được nghe, việc làm trái với sở học thì chỉ làm lụy cho khoa mục, làm tì vết cho bia đá này, há chẳng nên tự răn hay sao?
Than ôi! Lẽ trời ở trong lòng, hiện ra thì thấy rõ, thánh hóa ban tới người dân, lâu ngày tất cũng rõ rệt. Bia đá này dựng ở nhà Thái học, chẳng những để tỏ thành ý sùng Nho của Thánh thượng, nêu cao ý chuộng văn của triều đình trong buổi đầu mà còn khích lệ nhân tâm, bồi dưỡng sĩ khí để phù hợp với giáo hoá hiện nay cho đến vô cùng. Sau này các sĩ tử gặp nhau, mắt nhìn bia, miệng đọc bia, chẳng ai mà không cảm kích phấn khởi, lấy khoa mục để tự động viên mình thấy ơn sâu mà gắng sức, nối nhau xuất hiện mà giúp cuộc thái bình thịnh trị muôn thuở cho nước nhà, xây đắp xã tắc muôn năm được bền vững. Như thế thì bia đá này dựng lên, công dụng há phải chỉ là bổ ích nhỏ hay sao?
Đồng đức công thần Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu Lễ bộ Thượng thư Thái tử Thái bảo Đông các Đại học sĩ Thiếu bảo Thông Quận công thượng trụ quốc Nguyễn Thì Ung cùng Phụng trực đại phu Đông các Hiệu thư Tư chính Thượng khanh Nguyễn Cư Nhân3 vâng sắc soạn.
Thông chương đại phu Trung thư giám Chính tự Tư chính khanh Nguyễn Ngạn Chiêu vâng sắc viết chữ (chân).
Thông chương đại phu Kim quang môn Đãi chiếu Tư chính khanh Nguyễn Tấn vâng sắc viết chữ triện.
Bia dựng tiết đông chí, tháng trọng đông năm Kỷ Sửu 4 niên hiệu Minh Đức thứ 3 (1529).
Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ, 3 người:
ĐỖ TỔNG杜綜5 người xã Lại huyện Văn Giang.
NGUYỄN HÃNG阮沆6 người xã Vũ Lăng huyện Thượng Phúc.
NGUYỄN VĂN HUY阮文徽7 người xã Vĩnh Cầu huyện Đông Ngàn.
Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, 8 người:
NGUYỄN VÂN QUANG 阮雲光8 người xã Bình Sơn huyện Đông Ngàn.
TRẦN THỤY 陳瑞9 người xã Ngọc Bộ huyện Thái Bình.
PHẠM HUY 范輝10 người xã Mặc Khê huyện Thanh Lâm.
ĐẶNG LƯƠNG TÁ 鄧良佐11 người xã Đặng Xá huyện Thạch Thất.
NGUYỄN HOẢNG 阮恍12 người xã Đức Thắng huyện Hiệp Hòa.
NGUYỄN DOÃN ĐỊCH 阮允迪13 người xã Hoàng Vân huyện Hiệp Hòa.\PHÍ THẠC 費碩14 người xã Hương Ngải huyện Thạch Thất.
NGUYỄN CHIÊU KHÁNH 阮昭慶15 người xã Yên Sở huyện Đan Phượng.
Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, 16 người:
NGUYỄN HỮU HOÁN 阮有煥16 người xã Xuân Ứng huyện Quang Phúc.
NGUYỄN ĐỊCH GIÁO 阮迪教17xã Thượng Cốc huyện Gia Lộc.
LÊ THỰC 黎湜18xã Ngọc Bộ huyện Văn Giang.
HOÀNG KHẮC THẬN 黃克慎19xã Đại Lý huyện Thuần Lộc.
LÊ TẢO 黎藻20xã Phúc Khê huyện Từ Liêm.
NGUYỄN QUÝ LƯƠNG 阮貴良21 người xã Địa Linh huyện Phụ Dực.
NGUYỄN ĐỨC KÝ 阮德驥22 người xã Đan Nhiễm huyện Văn Giang.
AN KHÍ SỬ 安器使23 người xã Nhĩ Độ huyện Nam Xương.
VŨ NGUNG 武嵎24 người xã Đoàn Lâm huyện Gia Lộc.
CHU TAM DỊ 朱三異25 người xã Phù Lưu huyện Đông Ngàn.
PHAN TẾ 潘濟26 người xã Nguyễn Xá huyện Thạch Thất.
ĐINH THỤY 丁瑞27 người xã Tùng Quan huyện Đông Yên.
PHẠM KINH BANG 范經邦28 người xã Thì Trung huyện Thanh Oai.
LƯƠNG NHƯỢNG 梁讓29 người xã Nội Trà huyện Yên Phong.
NGUYỄN DƯƠNG 阮洋30 người xã Trà Lâm huyện Siêu Loại.
NGUYỄN QUANG TÁN 阮光贊31 người xã Vọng Nguyệt huyện Yên Phong.

Chú thích:

1. Họ Hữu Ngu: Chỉ vua Thuấn.
2. Chỉ Mạc Đăng Dung: Niên hiệu Minh Đức (1527-1529).
3. Nguyễn Cư Nhân thi đỗ Tiến sĩ khoa Mậu Dần Quang Thiệu thứ 3 (1518) đời Lê Chiêu Tông. Xem chú thích 13, Bia số 13.
4.Đồ duy xích phấn, biệt danh của năm Kỷ Sửu.
5. Đỗ Tổng (1504-?) người xã Lại Ốc huyện Tế Giang (nay thuộc xã Long Hưng huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên). Ông giữ các chức quan, như Tả Thị lang Bộ Hình, Đông các Đại học sĩ.
6. Nguyễn Hãng (1488-?) nguyên quán xã Vũ Lăng huyện Thượng Phúc (nay thuộc xã Thắng Lợi huyện Thường Tín tỉnh Hà Tây), trú quán xã Thắng Lãm (nay thuộc xã Phú Lương huyện Thanh Oai tỉnh Hà Tây). Ông giữ các chức quan, như Thị lang, Đông các Đại học sĩ.
7. Nguyễn Văn Huy (1486-?) người xã Vịnh Cầu huyện Đông Ngàn (nay thuộc xã Đồng Nguyên huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Thượng thư Bộ Lễ.
8. Nguyễn Vân Quang (1484-?) người xã Bình Sơn huyện Đông Ngàn (nay thuộc huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Đô Cấp sự trung. Có tài liệu ghi ông tên là Nguyễn Quang Vân và nguyên quán xã Yên Trừ.
9. Trần Thụy (?-?) người xã Ngọc Bộ huyện Đại An (nay thuộc xã Yên Nhân huyện Ý Yên tỉnh Nam Định). Ông làm quan Hàn lâm viện Hiệu thảo. (Có tài liệu ghi ông là Trần Nhụ).
10. Phạm Huy (?-?) người xã Mặc Khê huyện Thanh Lâm (nay thuộc xã Minh Tân huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Tham chính.
11. Đặng Lương Tá (?-?) người xã Đặng Xá huyện Thạch Thất (nay thuộc xã Bình Phú huyện Thạch Thất tỉnh Hà Tây). Ông làm quan đến Giám sát Ngự sử.
12. Nguyễn Hoảng (1490-?) người xã Đức Thắng huyện Hiệp Hòa (nay thuộc xã Đức Thắng huyện Hiệp Hòa tỉnh Bắc Giang). Ông làm quan đến Tả Thị lang Bộ Hình, tước Đạm Khê bá.
13. Nguyễn Doãn Địch (1490-?) người xã Hoàng Vân huyện Hiệp Hòa (nay là xã Hoàng Vân huyện Hiệp Hòa tỉnh Bắc Giang). Ông làm quan Thượng thư Bộ Lại kiêm Quốc tử giám Tế tửu, tước Mỹ Trai bá. Có tài liệu ghi ông người xã Hoàng Phỉ cùng huyện.
14. Phí Thạc (1508-1585) người xã Hương Ngải huyện Thạch Thất (nay là xã Hương Ngải huyện Thạch Thất tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Thượng thư Bộ Hình, tước Phúc Thủy hầu. Sau khi mất, ông được tặng hàm Thiếu bảo.
15. Nguyễn Chiêu Khánh (1496-?) người xã Yên Sở huyện Đan Phượng (nay thuộc xã Yên Sở huyện Hoài Đức tỉnh Hà Tây. Ông làm quan đến Hàn lâm. Có tài liệu ghi ông là Nguyễn Chiêu Nghĩa và tài liệu khác lại ghi là Nguyễn Chiêu Độ.
16. Nguyễn Hữu Hoán (?-?) người xã Xuân Áng huyện Quang Phúc (chính là huyện Tân Phúc, sau đổi là Tiên Phúc, văn bia đã nhầm chữ Tiên thành chữ Quang ). Xã Xuân Áng đã chia làm 2 thôn, thôn Xuân Dục Đoài thuộc xã Phù Linh và thôn Xuân Dục Đông thuộc xã Tân Minh (nay đều thuộc huyện Sóc Sơn, Tp. Hà Nội). Ông làm quan Giám sát Ngự sử.
17. Nguyễn Địch Giáo (?-?) người xã Thượng Cốc huyện Trường Tân (nay thuộc xã Gia Khánh huyện Gia Lộc tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Giám sát Ngự sử.
18. Lê Thực (1494-?) người xã Ngọc Bộ huyện Tế Giang (nay thuộc xã Long Hưng huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan Thị lang, tước Văn Hợp bá.
19. Hoàng Khắc Thận (1505-?) người xã Đại Lý huyện Thuần Lộc (nay thuộc xã Đại Lộc huyện Hậu Lộc tỉnh Thanh Hóa). Ông làm quan Lại bộ Thượng thư, tước Hoàng Trung hầu.
20. Lê Tảo (1501-?) người xã Phúc Khê huyện Từ Liêm (nay thuộc xã Phú Minh huyện Từ Liêm Tp. Hà Nội), trú quán xã Cổ Nhuế (nay là xã Cổ Nhuế cùng huyện). Ông làm quan Tả Thị lang Bộ Lại, tước Hành Viễn bá. Sau khi mất, ông được tặng Thượng thư, tước công.
21. Nguyễn Quý Lương (?-?) người xã Địa Linh huyện Phụ Dực (nay thuộc xã An Bài huyện Quỳnh Phụ tỉnh Thái Bình). Ông làm quan Tham chính.
22. Nguyễn Đức Ký (1502-?) người xã Đan Nhiễm huyện Tế Giang (nay thuộc huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan Tổng binh phủ Cao Bằng, tước Đổng Sơn bá.
23. An Khí Sử (1506-?) người xã Nễ Độ huyện Nam Xương (nay thuộc huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam). Ông làm quan Thị lang. Có tài liệu ghi ông là Ngô Khí Sử.
24. Vũ Ngung (1508-?) người xã Đoàn Lâm huyện Gia Lộc (nay thuộc xã Thanh Tùng huyện Thanh Miện tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Thượng thư, tước Trãi Sơn hầu. Khi mất, ông được tặng tước Quận công.
25. Chu Tam Dị (1494-?) người xã Phù Lưu huyện Đông Ngàn (nay thuộc xã Tân Hồng huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Hàn lâm viện Kiểm thảo. Có tài liệu ghi ông là Tống Tam Dị.
26. Phan Tế (1510-?) người xã Nguyễn Xá huyện Thạch Thất (nay thuộc xã Thạch Xá tỉnh Hà Tây), trú quán xã Nhật Xá huyện Duy Tiên (nay thuộc huyện Duy Tiên tỉnh Hà Nam). Ông làm quan đến Thừa chính sứ, tước nam.
27. Đinh Thụy (?-?) người xã Tùng Quan huyện Đông Yên (nay thuộc huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan Hàn lâm viện Kiểm thảo. Có tài liệu ghi ông người xã Sài Quất hoặc Tử Quất.
28. Phạm Kinh Bang (?-?) người xã Thời Trung huyện Thanh Oai (nay thuộc huyện Thanh Oai tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Giám sát Ngự sử.
29. Lương Nhượng (1501-?) người xã Nội Trà huyện Yên Phong (nay thuộc huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Tham chính.
30. Nguyễn Dương (1504-?) người xã Trà Lâm huyện Siêu Loại (nay thuộc xã Trí Quả huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh). Ông là em của Nguyễn Dần, ông nội Nguyễn Cổn và làm quan Tự khanh.
31. Nguyễn Quang Tán (1502-?) người xã Vọng Nguyệt huyện Yên Phong (nay thuộc xã Tam Giang huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Giám sát Ngự sử.

Tác giả bài viết: Nguyễn Duy Rằm

Tổng số điểm của bài viết là: 50 trong 10 đánh giá

Xếp hạng: 5 - 10 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Thống kê truy cập
  • Đang truy cập46
  • Hôm nay5,894
  • Tháng hiện tại28,138
  • Tổng lượt truy cập1,705,271
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây