Các vị Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa qua các Triều đại phong kiến Việt Nam

Thứ sáu - 03/01/2025 19:34 186 0

Các vị Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa qua các Triều đại phong kiến Việt Nam

Các vị Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa qua các Triều đại phong kién Việt Nam

6. KHOA GIÁP THÌN- HƯNG LONG 12 (1304) TRẦN ANH TÔNG

A . TRẠNG NGUYÊN MẠC ĐĨNH CHI (1272- 1346)
Người xã Lũng Động. huyện Chí Linh. Nay là Thôn Lũng Động, xã
(0) Khoa thi này (1275) LTĐK ghi lấy đỗ Tiến sĩ 24 người nhưng chỉ ghi được tên 2 người.
Nam Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Cháu xa đời Mạc Hiển Tích, viễn tổ của Mạc Đăng Dung.
Đỗ Trạng nguyên khoa thi Thái học sinh năm Giáp Thìn, niên hiệu Hưng Long 12 (1304) đời Trần Anh Tông. Sau khi đỗ được bổ chức Thái học sinh hoả dũng thư gia, sau thăng chức Đại liêu ban, Tả bộc xạ. Ông đi sứ nhà Nguyên, được vua Nguyên khen ngợi, gọi là Lưỡng quốc Trạng nguyên.
Mạc Đĩnh Chi tự Triết Phu; tác phẩm hiện còn 4 bài thơ chép trong Việt âm thi tập và 1 bài phú trong QHPT.
Giai thoại về Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi
Mạc Đĩnh Chi (1272- 1346), người xã Lũng Động, huyện Chí Linh, nay là thôn Lũng Động, xã Nam Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Thuở hàn vi, Mạc Đĩnh Chi mồ côi cha từ nhỏ, nhà nghèo, hai mẹ con phải đi vào rừng sâu hái củi để kiếm sống hàng ngày. Bà mẹ đã chịu hy sinh tất cả để cố nuôi cho con được đi học, trong những năm tháng nhọc nhằn, tủi nhục, mẹ vẫn cắn răng chịu đựng. mẹ chỉ ao ước con mình sẽ có ngày đỗ đạt để giúp ích cho đời, thoát khỏi cảnh nghèo, niềm tin ấy đã giúp mẹ vượt qua mọi gian khổ. Hiểu được lòng mẹ, Mạc Đĩnh Chi càng ra sức học tập. Vốn là cậu bé có tư chất thông minh lại phải sống trong cảnh mồ côi nghèo khổ, bị người đời khinh rẻ, Mạc Đĩnh Chi sớm nhận ra rằng chỉ có học tập, học tập thành tài mới là con đường đưa cậu bé thoát khỏi cảnh nghèo khổ và cũng là để thể hiện phẩm giá thanh cao của con người từ sự đỗ đạt mà đi lên. Vì vậy, không mấy lúc, Mạc Đĩnh Chi ngơi đọc sách, nghiền ngẫm nghĩa sách, kể cả lúc vai gánh củi đi bán. Không có sách học, thì mượn thầy, mượn bạn. Mạc Đĩnh Chi cố học thuộc lòng nhiều cuốn sách quý. Không có tiền mua nến để đọc sách thì Mạc Đĩnh Chi đốt củi, hết củi thì lấy lá rừng đốt lên mà học. Chú còn bắt nhiều đom đóm cho vào vỏ trứng để có ánh sáng mà đọc sách, thật là vô cùng gian khổ, nhưng chú bé không hề nản chí. Do có nghị lực phi thường, cộng với tính thông minh, trác việt, chẳng bao lâu Mạc Đĩnh Chi đã nổi tiếng thần đồng nho học sứ Hải Dương.
(I) Theo cuốn Văn Hiến Kinh Bắc.
ượng Lưỡng quốc Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi
tại trường PTTH Mạc Đĩnh Chi- Thành phố Hồ Chí Minh
Khoa thi Giáp Thìn (1304), thi Hội, Mạc Đĩnh Chi đỗ Hội nguyên, thi Đình ông được chấm đỗ Trạng nguyên, nhưng khi vào ra mắt nhà Vua, vua Trần Anh Tông thấy ông tướng mạo xấu xí, có ý không muốn cho ông đỗ đầu. Biết ý, ông đã làm bài thơ Ngọc tỉnh liên phú. Đó là bài phú bằng chữ Hán để gửi gắm chí khí của mình. Bài phú đề cao được phẩm chất trác việt và phong thái cao quý của một người khác thường,
vượt xa người khác về mọi mặt. Song không muốn a dua với người tầm thường để mong cho đời biết đến. Ông dùng hình tượng một bông sen sinh ra trong giếng ngọc ở núi Hoa Sơn do một vị đạo sĩ kỳ dị hái mang xuống cõi trần. Ông mượn nhiều mệnh đề thi ca có sẵn trong văn chương cổ điển phương Đông để tự bày tỏ ý chí của mình. Vua Trần Anh Tông xem xong khen là thiên tài mới cho đậu Trạng nguyên, ban cờ biển vinh quy bái Tổ.
Sau khi trở về kinh đô, nhà Vua cho vời Trạng vào bệ kiến, hỏi việc chính trị, Trạng nói đâu ra đấy, Vua rất đẹp lòng, ban cho Trạng chức Hàn lâm học sĩ, sau thăng dần đến chức Thượng thư, rồi Đại Liêu ban Tả Bộc Xạ (tương đương Tể tướng).
Năm Đại Khánh triều vua Trần Minh Tông (1314- 1329), vua nhà Nguyên sai sứ sang phong vương cho nhà vua, Mạc Đĩnh Chi được cử làm Chánh sứ sang nhà Nguyên đáp lễ. Trong quá trình đi sứ, ông đã biểu hiện xuất sắc tài năng ngoại giao và tầm trí tuệ vĩ đại của ông, khiến cho vua tôi nhà Nguyên vô cùng kính phục.
Trên đường đi sứ, ngay trên biên giới hai nước, ông đã chứng tỏ tài ứng đối. Khi đoàn sứ giả tới ải Pha Luỹ (tức Mục Nam Quan). Cửa ải đóng chặt, có một vế đối dán sẵn ở cửa ải như sau:
Quá quan trì, quan quan bế, nguyện quá khách quá quan.
Nghĩa: Qua cửa quan chậm, cửa quan đóng, mời khách qua đường qua cửa quan.
Vế đối hiểm hóc ở chỗ có 4 chữ “quan” và 3 chữ "quá ".
Mạc Đĩnh Chi và đoàn sứ giả biết rằng đây là mưu kế của bọn quan lại nhà Nguyên ra điều kiện để được mở cửa quan. Nếu đoàn sứ giả không đối được thì sẽ không vào được biên giới Trung Hoa, như vậy sẽ ảnh hưởng đến quốc thể.
Sau khi suy nghĩ một chút, Mạc Đĩnh Chi đã đối lại :
- Xuất đối dị, đối đối nan, thỉnh tiên sinh tiên đối.
Nghĩa là: Ra câu đối dễ, đối câu đối khó, xin tiền sinh đối trước. Vế đối cũng có 4 chữ "đối” và 2 chữ "tiên ". Tình thế đổi khác, tưởng đã bí thế mà lại hoá ra một câu đối hay viên quan nhà Nguyên chịu là vị Trạng nguyên đất Việt có tài ứng biến đã chuyển bại thành thắng nên lập tức xuống mở cửa ải, ân cần đón đoàn sứ giả.
Ngay lần gặp mặt đầu tiên, vua quan nhà Nguyên muốn làm nhụt ý chí của đoàn sứ giả, tự cho mình như mặt trời đỏ, ra vế đối ý kiêu căng.
- Nhận hoả, vân yên, bạch đản thiêu tàn thỏ ngọc.
Nghĩa là: "Mặt trời là lửa, mây là khói, ban ngày thiêu cháy vầng trăng". Vế đối còn có ý ám chỉ đối phương yếu và nhát như thỏ. Nghe xong, Mạc Đĩnh Chi đối lại:
- Nguyệt cung, tinh đạn, hoàng hôn xạ lạc kim ô.
Nghĩa là: "Trăng là cung, sao là đạn, buổi chiều tối bắn rụng mặt trời”.
Vế đối rất chỉnh và tài tình, đã nêu cao được ý chí và sức mạnh của Đại Việt. Vế đối còn rất đẹp về hình ảnh Mặt Trăng lưỡi liềm giống như cây cung, muôn vàn vì sao lấp lánh giống như những viên đạn. Hơn nữa vế đối còn có ý ám chỉ đối phương là con quạ vì "kim Ô " vừa nghĩa là "Mặt Trời ", lại vừa có nghĩa là “con quạ sắt ”. Vua Nguyên thấy mình bị trả miếng rất đau, nhưng hết sức phục tài viên sứ nước Đại Việt. Vì vậy, vua tỏ ra vui vẻ:
Quả là danh bất hư truyền, lời đồn đại về tài năng của ngươi thật chẳng ngoa. Nói rồi, vua Nguyên sai ban rượu ngon và sai viên nội giám xuất nhiều vàng bạc trong kho để tặng thưởng Mạc Đĩnh Chi.
Trong kỳ đi sứ này của Mạc Đĩnh Chi, có một phiên chầu, sứ giả nước ngoài dâng vua Nguyên một chiếc quạt quý. Vua sai sứ Cao Ly và sứ Đại Việt làm bài vịnh chiếc quạt. Sứ Việt đã nhanh chóng làm một bài thơ rất hay, có khí phách lớn và chữ nghĩa đối nhau rất tài tình.
Bài thơ có những câu:
1) Lưu kim thước thạch, thiên địa vi lỗ, nhĩ ư tư thời hề Y, Chu cự nho. 2) Bắc Phong kỳ lương tuyết vũ tái đồ, nhĩ ư tư thời hề Di, Tề nga phu. Y, dụng chi tắc hành, xả chi tắc tàng, duy ngã dữ nhĩ hữu thị phi”.
Nghĩa là: Nóng chảy vàng tan đá, trời đất là lò, bấy giờ người ta là bậc cư nho như Y Doãn, Chu Công)
(). Y Doãn: công thần đời nhà Thương, từng cày ruộng đất Hữu Sần. Vua Thang ba lần đến mời ông mới chịu ra giúp vua đánh vua Kiệt, diệt nhà Hạ, dựng lên cơ nghiệp nhà Thương.
Chu Công (hoặc Châu Công), tên là Đán, chú của Thành Vương nhà Chu. Khi lên ngôi Thành Vương còn nhỏ, Chu Công nhiếp chính, dẹp bọn loạn thần, giữ yên cơ nghiệp nhà Chu, nên được sử sách thời phong kiến ca ngợi.
Gió bắc rợn người, mưa tuyết đầy đường, khi đó người là kẻ trượng phu chết đói như Bá Di, Thúc Tề (1).
Ôi! được dùng thì làm, bị bỏ thì ở ẩn, chỉ riêng ta với người là làm được việc đó thôi.
Bài thơ của Mạc Đĩnh Chi xong trước sứ Cao Ly. Nguyên Thành Tổ xem xong nức nở khen mãi. Vua Nguyên thực sự khâm phục tài năng viên sứ nước Đại Việt. Chính Nguyên Thành Tổ biết rằng mình thiếu một bề tôi có tài, có khí phách và lanh lợi như thế. Nguyên Thành Tổ đã phê vào bài thơ 4 chữ “Lưỡng quốc Trạng nguyên” và tự tay trao văn bằng cho Mạc Đĩnh Chi. Vua trìu mến nói:
- Tài năng của nhà ngươi, bản triều ta không dễ có người sánh được. Cũng chỉ ở nước Đại Việt mới có được những viên sứ như nhà ngươi.
Một hôm, nhân việc quan rỗi rãi, Mạc Đĩnh Chi vào thăm phủ thừa tướng nhà Nguyên. Trong phủ, trang hoàng lộng lẫy, có treo một bức trướng to tướng, trên thêu một con chim sẻ đậu cành trúc, trông tựa chim thật. ông lại gần xem, thừa tướng và các quan quân nhà Nguyên cười:
- A, sứ thần “An Nam" thấy lạ lắm phải không? Ha ha
Mạc Đĩnh Chi vội thẳng tay kéo soạt, bức trướng rách toang, tiện tay xé luôn mấy cái nữa, bức trướng rách tung ra từng mảnh rơi lả tả. Sao ngài lại xé bức trướng quý này? Một viên quan hốt hoảng kêu lên.
Mạc Đĩnh Chi nghiêm nét mặt lại, bảo:
Tôi thấy người xưa chỉ vẽ cây mai và chim sẻ thôi. Vì trúc là quân tử, chim sẻ là tiểu nhân, nay thừa tướng lấy trúc với chim sẻ thêu vào trướng, như vậy là tiểu nhân ở trên quân tử. Tôi sợ đạo tiểu nhân lớn hơn, đạo quân tử mòn đi, nên vì thánh triều trừ bỏ nó đi, chứ thứ ấy quý giá nỗi gì?
". Bá Di, Thúc Tề là hai con vua nước Cô Trức, chư hầu của nhà Thương. Khi Vũ Vương nhà Chu (là chư hầu của nhà Thương) tiến quân đánh vua Trụ nhà Thương thì Bá Di, Thúc Tề liền giữ cương ngựa lại can ngăn. Sau Vũ Vương diệt Trụ, lập ra nhà Chu, hai ông cho là bất nghĩa nên không thèm ăn thóc của nhà Chu mà vào ở ẩn trên núi Thái Dương, hái rau ví mà ăn rồi chết đói. Mạnh Tử khen Bá Di, Thúc Tề là “Thánh chí thanh”, tức là bậc thánh trong sạch.
Viên thừa tướng nọ ức quá, song không có cớ gì để quở trách hoặc bắt đền được. Bấy lâu nay, ông ta đã từng tự hào có bức trướng đẹp và sang trọng này, bức trướng từng tô điểm căn phòng thêm lịch sự, nay bỗng dưng rách tan tành, thật là tai bay vạ gió. Ông ta tiếc rẻ mãi, nhưng chỉ dám xuýt xoa trong lòng.
Tối hôm ấy, quan thừa tướng mời Mạc Đĩnh Chi đến uống trà và ngâm vịnh. ông ta cho bày tiệc trà ở giữa sân để tiếp khách và hóng mát.
Dưới ánh trăng rằm sáng vằng vặc, chủ và khách ngồi uống trà thân mật, thỉnh thoảng Mạc lại ngâm một câu thơ, chủ cũng ngâm thơ hoạ lại. Hai người cân tài cân sức, chẳng ai chịu kém. Đêm càng khuya, cả chủ lẫn khách càng say mê gửi gắm lời thơ của mình vào cảnh thiên nhiên. Chủ đôi lúc lại nhớ đến bức trướng rách trong lòng ấm ức, bực vì gặp phải ông khách quá thô bạo. Đêm đã khuya, khi tiệc sắp tan, ông ta định trả miếng lại chuyện ban chiều, liền cầm một chiếc chén, lý sự với Mạc rằng:
chén?
Cây kỷ là gỗ, cái chén không phải là gỗ, tại sao lại lấy gỗ làm
Mạc Đĩnh Chì thấy câu hỏi thật phi lý, dớ dẩn, lý sự, ông bèn cười mà hỏi lại rằng:
Thưa ngài thừa tướng! Ngài hãy giải thích: Phật không phải là người, thầy tăng là người, vậy cái gì đã khiến cho thầy tăng thờ Phật? Thừa tướng cười to xí xoá. Hai người dắt tay nhau đi vào trong nhà. Vừa bước chân lên bực cửa, thừa tướng lại ra đối.
An khử nữ dĩ thỉ vi gia (Chữ an bỏ chữ nữ đi, thêm chữ thủ vào thành chữ gia (nhà)).
Mạc Đĩnh Chi thấy đây là một lối chơi chữ rất thâm hiểm của ông ta. Nói như vậy có nghĩa là nhà Nguyên cần phải xoá bỏ nước An Nam, nhập thành châu huyện của họ. Mạc lập tức đối lại rất sắc bén:
Tù xuất nhân, lập vương thành quốc (Chữ tù bỏ chữ nhân đi, thêm chữ vương thành chữ quốc).
Thực là chữ đối chữ, ý đối ý, dân ta nhất định xoá bó ách áp bức, đè nén của nước lớn, xây dựng một quốc gia độc lập tự chủ.
Đoàn sứ giả nước Đại Việt đang chuẩn bị về nước vì đã hoàn thành sứ mệnh vua giao thì một tình huống bất ngờ đã xảy ra:
Công chúa nhà Nguyên qua đời và vua Nguyên sai sứ thần của triều đình đến gặp Mạc Đĩnh Chi và nói:
Thưa tiên sinh, hôm nay đại bất hạnh cho hoàng tộc, bà trưởng công chúa đã mất, Thánh thượng biết ngài là người có giọng đọc tốt, hơn nữa tiên sinh lại là người ngoài nên triều đình có ý muốn nhờ tiên sinh đọc bài điếu văn cho thêm phần trang trọng.
Mạc Đĩnh Chi nhận lời:
- Tôi cũng muốn đến để viếng công chúa và chia buồn với nhà vua, nhưng chẳng hay bài điếu văn này, triều đình muốn tôi phải viết ý tứ gì?
Sứ giả nhà Nguyên nói:
Bài điếu văn đã được viết sẵn rồi. Chỉ dám phiền tiên sinh đọc mà thôi.
Tang lễ được cử hành rất linh đình để khoe sự giàu sang và truyền thống nghi lễ của nước lớn. Đến ngày cuối cùng là ngày an táng công chúa, Mạc Đĩnh Chi được mời vào cung để đọc điếu văn.
Ông được một viên văn quan long trọng nâng hai tay ngang đầu chuyển cho ông bài điếu văn. Một sự kiện cổ kim không tiền khoáng hậu có một không hai đã xảy ra. Bài điếu văn chỉ có một chữ đó là chữ “nhất” rất to.
Trước sự việc như vậy, Mạc Đĩnh Chi không hề bối rối vì ông biết chắc chắn thế nào người Nguyên thử tài mình bằng những cách thức vô cùng hiểm hóc.
Sau một thoáng suy nghĩ, ông lấy giọng đọc sang sảng, lâm ly bài điếu sau:

Thanh thiên nhất đoá vân
Hồng lô nhất điểm tuyết,
Thượng uyển nhất chi hoa,
Quảng Hàn nhất phiến nguyệt.
Y! Vân tán, tuyết tiêu, hoa tàn, nguyệt khuyết.
Nghĩa là:
Trời xanh có một đám mây,
Trong bầu vũ trụ có một điểm tuyết,
Trong vườn Thượng uyển có một cành hoa,
Cung Quảng Hàn có một vầng trăng.
Than ôi! Mây đã tan, tuyết đã tan, hoa đã tàn. Vầng trăng đã khuyết.

Đọc xong với vẻ mặt buồn rầu, ông nghiêm trang bước ra trước sự xúc động nghẹn ngào của những cung phi mỹ nữ và trước vẻ tưng hửng của vua tôi nhà Nguyên vì họ đã dương bẫy để sứ nước Đại Việt chui vào. Nhưng do tài trí tuyệt vời mà sứ giả nước Đại Việt lại ung dung đi ra trước sự khâm phục của mọi người.
Mạc Đĩnh Chi lại tạo ra một kỳ tích có một không hai trong lịch sử văn chương chữ nghĩa trong thời đại của ông.
Hôm sau, Mạc Đĩnh Chi khăn mũ chỉnh tề vội vã vào chầu lần cuối để tạ biệt vua Nguyên về nước. Trong lòng ông mừng lắm, suốt đêm qua ông không sao chợp mắt được, cứ nghĩ đến lúc gặp gỡ người thân, gặp bạn bè, lòng lại rộn lên xao xuyến.
Vào tới công đường, ông đã thấy các quan văn võ tề tựu dông đủ. Ông rảo bước lên hàng đầu tâu lớn:
Dạ muôn tâu bệ hạ! Thần có lời từ biệt, xin chúc bệ hạ vạn thọ vô cương.
Suy nghĩ giây lát, từ trên ngai vàng, vua Nguyên phán xuống:
Bấy lâu nay, nhà ngươi lưu lại Yên Kinh, thăm phong cảnh, xem xét kỹ lưỡng mọi nơi, ngày nào cũng cỡi ngựa đi trên đường cái quan, thế ngươi có biết mỗi ngày có bao nhiêu người qua lại trên đường cái quan không?
Trên đường phố ở kinh đô Yên Kinh rộng lớn này hàng ngày có biết bao nhiêu người qua lại, làm sao có thể biết được? Thật là một câu hỏi oái oăm, nan giải, Mạc nghĩ vậy.
Thấy Mạc Đĩnh Chi ngập ngừng, vua Nguyên và quần thần ra vẻ hí hửng, tưởng rằng phen này, Mạc phải chịu bí.
(1)
Nhưng Mạc cười nói:
Sống lâu muôn tuổi.
- Tha bệ hạ, có hai người chứ mấy?
Vua Nguyên ngạc nhiên hỏi:
- Người nói sai rồi. Sao lại chỉ có hai người thôi?
Mạc Đĩnh Chi thưa:
Phàm là những kẻ qua lại trên đường cái quan kinh đô này, thì chẳng vì danh cũng vì lợi, vậy há chẳng phải chỉ có hai người, một vì danh, một vì lợi sao?
Vua Nguyên trong lòng phục lắm, song không nói ra. Vậy y lại còn có ý muốn lưu Mạc Đĩnh Chi lại Yên Kinh không cho về Nam, bèn bày kế đưa Mạc vào tròng:
Có một chiếc thuyền trong đó chỉ có vua, thầy học và cha mình (quân, sư, phụ) bơi đến giữa sông chẳng may bị sóng lớn đắm thuyền. Khi ấy, ngươi ở trên bờ nhảy xuống bơi ra cứu, nhưng chỉ có thể cứu được một người thôi thì ngươi cứu ai?
Với câu hỏi hóc búa này, vua Nguyên cho rằng nhất định Mạc sẽ mắc tội lớn. Vì rằng nếu Mạc nói chỉ cứu vua, ắt mắc tội bất hiếu với cha, bất nghĩa với thầy học. Nếu nói chỉ cứu thầy, thì mắc tội bất trung với vua, bất hiếu với cha. Tội ấy quả đáng phải chém đầu. Nếu chỉ cứu cha thì lại mắc tội bất trung, bất nghĩa. Nếu không nói gì tức là không cứu ai, tội ấy càng nặng.
Quần thần nhà Nguyên đắc ý đưa mắt nhìn nhau, thầm thì bàn tán, cho rằng phen này họ Mạc nhất định mắc tội chém đầu chứ chẳng chơi.
Nhưng Mạc Đĩnh Chi không hề tỏ ra lúng túng, mà ông dõng dạc trả lời:
Thần đứng trên bờ, thấy thuyền bị đắm tất phải vội vã nhảy xuống sông bơi ra cứu, hễ gặp ai trước thì cứu người ấy, bất kể người ấy là vua, thầy hay cha mình.
Cả triều đình trố mắt thán phục trước câu trả lời ấy.
Vua quan nhà Nguyên đành phải để Lưỡng quốc Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi và đoàn sứ thần về nước.
Mạc Đĩnh Chi làm quan trải 3 triều vua: Trần Anh Tông (1293- 1314), Trần Minh Tông (1314- 1329), Trần Hiến Tông (1329- 1341), đến chức Đại Liêu ban Tả bộc Xạ (Tể tướng) đứng đầu triều, khi làm quan thì ông nổi tiếng trung thực và thanh liêm, hết lòng vì dân vì nước, đến lúc già về hưu chỉ có xếp Từ đường (thờ tổ tiên) nhỏ bé mà thôi, thường ngày ông vẫn ra ngồi nơi quán lá ngoài đồng uống bát nước vối, chuyện trò thân mật với dân làng. Ông sống thanh bạch, giản dị như những người dân quê....
Ngày nay để tưởng nhớ công lao của ông, Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh đều có đường phố, trường học tên “Lưỡng quốc Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi”.
(Xin chép thêm dưới đây bài phú Hoa sen giếng ngọc nổi tiếng của Mạc Đĩnh Chi)
Khách hữu:
NGỌC TỈNH LIÊN PHÚ
Ẩn kỹ cao trai: hạ nhật chính ngọ.
Lâm bích thuỷ chi thanh trì; vịnh phù dung chi Nhạc phủ.
Hốt hữu nhân yên:
Dã ký phục; hoàng ký quan.
Quýnh xuất thần chi tiên cốt; lầm tịch cốc chi cù nhan.
Vấn chi hà lai, viết: tòng Hoạ - san.
Nãi thụ chi kỷ; nải sử chi tạo.
Phá Đông- lăng chi qua; tiến Dao trì chi quả.
Tái ngón chi lang; tái tiếu chi thả.
Ký nhi mục khách viết: tử phi ái liên chi quân tử da?
Ngã hữu di chủng, tàng chi tụ gian;
Phi đào lý chi thô tục; phí mai trúc chi cô hàn.
Phi tăng phòng chia câu kỹ; phi Lạc thổ chi mẫu đan.
Phi Đào lệnh đông ly chỉ cúc; phi Linh Quân cửu uyển chi lan. Nãi Thái hoạ phong đầu Ngọc tỉnh chi liên.
Khách viết :
Dị tai! Khởi sở vị ngẫu như thuyền hề hoa thập trượng: lãnh tỉ sương hề cam tỉ mật giả da?
Tích văn ký danh: kim đắc kỳ thực.
Đạo sĩ hàn hiên; nãi tụ trung xuất.
Khách nhất kiến chi, tâm trung uất uất.
Nãi phất thập dạng chi tiên, tri ngũ sắc chi bút.
Dĩ vi ca viết:
Giá thuỷ tinh hề vi cung; tạc lu li hề vi hộ.
Toái pha lê hề vi nê; sái minh châu hề vi lộ.
Hương phức úc hề tằng tiêu; đế văn phong hề như mộ.
Quế tử lãnh hề vô hương; Tố Nga phân hề nhữ đố.
Thái dao thảo hề Phương châu: vọng mỹ nhân hề Tương phố.
Kiển hà vị hề trung lưu; hạp tương phan hề cố vũ.
Khởi bộ lạc hề vô dung, thán thuyền quyên hè đa ngộ. Cẩu dư bính chi bất a; quả hà thương hồ phong vũ. Khùng phương hồng hề dao lạc; mỹ nhàn lại hề tuế Đạo sĩ văn nhị thán viết; Tử hà vi ai thả oán dã?
mộ.
Độc bất kiến Phượng hoàng trì thượng chi tử vì, Bạch ngọc đường tiền chi hồng dược?
Quýnh địa vị chi thanh cao; ái thanh danh chi chiêu chước
Bỉ giai kiến quý ư thánh minh chi triều; tử độc hà chi hồ tao nhân chi quốc?
Ư thị hữu cảm tư khôn, khởi kính khởi mộ.
Nga Thành Trai đình thượng chỉ thị; canh Xương Lê phong đầu chi củ. Khiếu xương hạp dĩ phi tâm, kính hiến Ngọc tỉnh liên chí phú.
DỊCH NGHĨA
Khách có kẻ:
PHỦ HOA SEN GIẾNG NGỌC
Nhà cao tựa ghé: trưa hạ nắng nồng.
Ao trong ngắm làn nước biếc; Nhạc phủ vịnh khúc phủ dung
Chợt có người:
Mặc áo quê; đội mũ vàng.
Tiên phong đạo cốt; khác xa trần gian.
Hỏi: “ở đâu lại?” Rằng “Tôi Hoạ san”
Bèn bắc ghế; bèn mời ngồi.
Dưa Đông – lăng đem cắt; quả Dao trì - đem mời
---
Bèn sang sảng nói: bèn ha hả cười.
Đoạn rồi, trông khách mà rằng:
“Anh cũng như người quân tử ưa hoa sen đó chăng?”
Ta có giống lạ trong ống áo này.
Chẳng phải như đào trần lý tục; chẳng phải như trúc cỗi mai gầy.
Câu kỷ phòng tăng khó sánh; mẫu đơn đất Lạc nào tây.
Giậu Dào lệnh các sao ví được; vườn Linh Quân lan khó sánh thay! Ấy là giống sen giếng ngọc ở đầu núi Thái hoa đây”.
Khách rằng:
"Lạ thay! Có phải người xưa từng bảo: "Ngó như thuyền mà hoa mười trượng, lạnh như sương mà ngọt như mật” đó ư?
Trước vẫn nghe tiếng; nay mới thấy thật,
Đạo sĩ lòng vui hớn hở, lấy trong ống áo trưng bày,
Khách vừa trông thấy; lòng ngậm ngùi thay,
Giấy mười thức xếp sẵn; bút năm sắc thấm ngay.
Làm bài ca rằng:
Thuỷ tinh gác để làm cung.
Cửa ngoài lóng lánh bao vòng lưu li
Bùn thời tán bột pha lê,
Hạt trai làn móc dầm dề tưới cây,
Mùi hương thơm ngát tầng mây,
Ngọc hoàng nghe cũng rủ đầy tình thương. Lạnh lùng hạt quế không hương.
Tố Nga lại nổi ghen tuông bời bời.
Bãi sông hái cỏ dạo chơi,
Bến Tương luống nhưng trông vời Tương phi.
Giữa dòng lơ lửng làm chi,
Nhà xưa sao chẳng về đi cho rồi.
Há rằng trông rỗng bất tài
Thuyền quyên lắm kẻ lỡ thời thương thay.
Nếu ta giữ mực thẳng ngay.
Mưa sa gió táp xem nay cũng thường.
Sợ khi lạt thắm phai hương.
Mỹ nhân đến lúc muộn màng hết xuân ".
Đạo sĩ nghe mà than rằng:
Sao anh lại ai oán như thế?
Anh không thấy: hoa tử vi trên ao Phượng hoàng,
Hoa hồng được trước thềm Ngọc đường đó sao ?
Địa vị cao cả; danh tiếng vẻ vang.
Triều minh thánh chúng ta đều được quý: cõi tao nhân anh đi mãi sao đang? "
Khách bấy giờ:
Nghe lọt mấy lời; đem lòng kính mộ.
Ngâm thơ đình thượng của Thành Trai;
Hoa câu phong đầu của Hàn Dũ
Gõ cửa thiên môn, giãi tấc lòng,
Kính dâng bài "Ngọc tỉnh liên phù”.
PHAN VÕ dịch
B. BẢNG NHÃN BÙI MỘ
Người xã Hưng Giáo, huyện Thanh Oai. Nay là thôn Hưng Giáo, xã Tam Hưng, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây.
Đỗ Bảng nhãn khoa thi Thái học sinh năm Giáp Thìn, niên hiệu Hưng Long (1304) đời Trần Anh Tông. Sau khi thi đỗ được bổ chức Chi hậu bạ thủ mạo sam, sung chức Nội bệnh sử thi gia.
Bùi Mộ hiệu Chuyết Trai. Tác phẩm còn 1 bài thơ chữ Hán chép trong Toàn Việt thi lục.
C. THÁM HOA TRƯƠNG PHÓNG
Người Thanh Hoá
Đỗ Thám hoa khoa thi Thái học sinh năm Giáp Thìn, niên hiệu Hưng Long 12 (1304) đời Trần Anh Tông.

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá

Xếp hạng: 5 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Thống kê truy cập
  • Đang truy cập17
  • Hôm nay5,894
  • Tháng hiện tại28,221
  • Tổng lượt truy cập1,705,354
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây