Các vị Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa qua các Triều đại phong kiến Việt Nam

Thứ bảy - 04/01/2025 19:06 140 0

Các vị Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa qua các Triều đại phong kiến Việt Nam

Các vị Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa qua các Triều đại phong kiến Việt Nam

11. KHOA NHÂM THÌN – HỒNG ĐỨC 3 (1472) LÊ THÁNH TÔNG

A . TRẠNG NGUYÊN VŨ KIỆT (1453 - ?)
Người xã Yên Việt, phủ Thuận Thành, trấn Kinh Bắc. Nay là thôn Cửu Yên, xã Ngũ Thái, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
Năm 20 tuổi, đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ đệ nhất danh (Trạng nguyên) khoa Nhâm Thìn, niên hiệu Hồng Đức 3 (1472) đời Lê Thánh Tông.
Làm quan Hàn lâm thị thư sau thăng đến chức Thị lang, kiêm Đông các học sĩ. Ông được người đời khen là bậc hiền tài. Con cháu ông cũng tiếp nhiều đời khoa bảng.
BÀI VĂN SÁCH THI ĐÌNH CỦA TRẠNG NGUYÊN VŨ KIỆT
Các sĩ tử xưa đỗ cao (trúng cách trong kỳ thi Hương rồi thi Hội mới được vào thi Đình) đây là kỳ thi đặc biệt để xếp hạng các tiến sĩ theo giáp đệ, kỳ thi này tổ chức ngay trong sân điện nhà vua vì vậy gọi là thi Đình (Đình thí) hay thi Điện (Điện thí) khác với thi Hội và thi Hương thí sinh phải qua bốn kỳ, thi Đình chỉ thi một bài văn sách nên
Khoa thi này (1472) lấy đỗ 27 Tiến sĩ.
Tư liệu theo cuốn “Văn Hiến Kinh Bắc” tập.
gọi là Đình đối sách văn (Văn sách thi Đình) và gọi tắt là đối sách hay Đình đình đối. Bài văn sách thi Đình do vua trực tiếp phê duyệt, lấy đỗ và xếp hạng. Để đạt cao trong kỳ thi Đình mà cao nhất là Trạng nguyên sĩ tử cần phải có vốn kiến thức và tài năng về Hán học, sử học và văn học (đó cũng là điều kiện để vượt qua hai kỳ thi Hương và thi Hội) mà còn đòi hỏi phải có sự hiểu biết tình hình của đất nước và vận dụng trí thức của mình để lý giải, để đề ra kế sách giải quyết những vấn đề của thực tế, đó là phần thời vụ sách của bài văn sách thi Đình. Vũ Kiệt đã vượt qua kỳ Đình đối với bài văn sách dài hơn chục nghìn chữ, vượt xa mức quy định tối thiểu (là ba nghìn chữ) nhiều lần, tất nhiên trong phạm vi thời gian một ngày, lại bị cắt đoạn bằng nhiều nghi thức, và bị khống chế ở những câu hỏi, bài Đình đối sách văn không thể phản ánh đầy đủ tự tưởng trí tuệ của người thi nhưng trọng phạm vi một bài văn, Vũ Kiệt đã đạt tới đỉnh cao nhất của khoa cử, thể hiện tài năng “kinh bang tế thế” của ông.
Mở đầu bài văn sách Đình đối, Vũ Kiệt đã đề cập đến những vấn đề chung nhưng theo ông đó là cái "cốt lõi của việc thịnh trị đất nước". Thần nghe: Muốn tìm hiểu đường lối trị nước cần phải tìm cái cốt yếu của việc trị nước. Muốn tìm cách thức của việc cứu tế cần xem xét nguyên nhân của việc cứu tế. Bởi vì việc võ là để uy hiếp kẻ địch bên ngoài, ổn định đất nước, nên thánh nhân dùng nộ khí để răn đe. Nho thuật để ngợi ca việc giáo hoá, điểm tô nền thái bình, nên bậc vua giỏi dùng mừng vui để tu đức. Cái tốt, cái xấu không phân biệt, tất thiện ác lẫn lộn. Người trung, kẻ tà không phân biệt thì người hiền tài chẳng vui khi được sử dụng. Phong tục không thuần hậu thì luân thường đổ nát, khiến cho nhân dân tâm bất chính, mà đạo đời không thuần nhất".
Từ phần chung này, bài văn sách của Vũ Kiệt đã đề cập đến nhiều vấn đề lớn của xã hội mà đầu bài thi đặt ra. Trong phạm vi bài này, xin đề cập đến hai phần có nội dung về giáo dục và về quan lại.
"Trẫm lo cho Nho thuật chưa thịnh đạt nên chú trọng việc tuyển chọn học trò vào Quốc tử giám, để nêu khuôn phép, kính trọng học quan, để dựng khuôn mẫu. Sách xưa có câu "Thầy nghiêm thì việc học đạo mới được tôn kính". Nhưng hiện tại nho sinh lại cảm thấy xấu hổ khi đến học thầy, cốt làm những chuyện hoạ may, hoặc qua tuần qua tháng lại đổi thầy. Một nho sinh mà chưa bao giờ biết gò mình trong việc tu chỉnh, khi đạt được danh vọng ở triều đình thì ít tuân theo lễ nghĩa. Đạo làm thầy bị bỏ rơi sao mà lâu thế, làm thế nào để cứu vãn được..."
Vũ Kiệt trả lời (đối sách)
“Thần nghe: Cái học của người xưa nhất thiết phải có thầy, người thầy làm nhiệm vụ truyền đạo, thụ nghiệp nêu lên những chỗ nhầm lẫn, giải thích những điều tồn nghi trong sách vở. Các ngành, các nghề, ngay cả những nghề vụn vặt cũng không thể không có thầy được, huống hồ người theo học đạo Nho? Bệ hạ thường lo nghĩ Nho thuật không được xem trọng, thì giáo hoá không được sáng sủa, nhân tài không phát triển, không lấy gì làm chỗ dựa cho cương thường, dẫn dắt theo nguyên khí của quốc gia... Ngoài ra còn kính trọng học quan và việc nêu khuôn mẫu của người thầy lại càng trọng hơn.
Là kẻ sĩ phải thấy rằng mình được vinh hạnh, càng chăm lo việc thực học. Trong lúc chưa thành đạt thì sống theo đạo lý thông thường để chờ thời gặp mệnh. Không để mất phẩm chất riêng của mình. Lúc đã được tin dùng thì phải giữ đúng danh vị và làm việc thực sự, không thể để mất cái điều mà mình hằng mong muốn, như thế mới có thể được".
“... Không thể không có những con người ngồi đúng chỗ, dung mạo đoan trang, sáng rõ nghĩa lý sách vở, tu chỉnh nết na...'
... Tất cả đều bởi cái đạo làm thầy được đứng vững nên người tốt được nhìn ra".
Vũ Kiệt cũng nêu những tồn tại của giáo dục lúc bấy giờ cả phía thầy dạy và học: Nhưng cũng có khá nhiều người làm thầy, tư chất kém cỏi, văn vẻ vụng về. Cái mà người học trò cần có là sự uyên bác, nhưng người thầy lại có kẻ nông xoàng, tài cán thô thiển. Đạo làm thầy không vững vàng như thế thì còn lạ gì khi thấy sĩ tử xấu hổ trong việc đi học? Hiện tại việc học của nho sĩ hẳn đều như việc học của cổ nhân chứ? Sự trình bày của họ chẳng qua là sự rườm rà theo cách cắt gọt vẽ vời, sách vở chứa đầy trên án nhưng phần nhiều là hình trạng của gió mây..."
Tâm thuật đã mất trước khi ra làm quan rồi, thì sau khi ra làm quan còn tìm sao được cái tiết tháo và phong độ của họ...”
"Cái thói quen bị kẻ sĩ buông trôi theo dòng tệ tục như thế thì còn gì khi họ đạt được danh vị ở triều đình nên ít người thuận theo lễ nghĩa..." Vũ Kiệt cũng vạch ra hướng để khắc phục những tồn tại ấy:
"Thần mong bệ hạ: Đạo làm thầy phải được tuyển chọn kỹ càng. Việc nuôi dạy sĩ tử phải được nghiêm nghị đúng hướng".
" Tìm nhân tài trước hết phải chú ý đến mặt đức hạnh, phế truất kẻ phù hoa..."
"Nếu như dùng lời gian dối để trau chuốt thì dứt khoát không dùng. Người dám nói thẳng... thì có thể thu nhận..."
"Khoa mục tuy có thể trọng dụng, nhưng dựa vào cái danh tiến sĩ mà phụ hoạ theo kẻ xấu, nhiều mánh lới như bè lũ Tô Nguyên thì bỏ hån".
"Nho thuật tuy có dùng, nhưng tự phụ cho rằng mình đã đọc hết sách vở, dùng văn học để đưa nước đến chỗ sai lầm như bọn Vương An Thạch thì trừ đuổi không thể gần gũi họ được..."
Về việc chống quan lại tham nhũng, sách vấn của nhà vua hỏi:
"Trẫm lo lắng cho cái thói tham lam làm đổi thay phong tục, nên đặt chức đình uý để xét tra những điều gian dối của bọn quan lại, thưởng người liêm khiết để khuyến khích họ làm những việc tốt. Thế nhưng người có chức vị vẫn không trong sạch, gió thổi bóng theo. Bọn viên chức nhỏ tự làm những điều ô nhục, ngày càng lan tràn. Dân càng nghèo mà đóng góp ngày càng lắm, pháp luật càng nghiêm mà kẻ gian ngày càng nhiều. Việc quân cơ, việc chính sự biến đổi rối rắm. Của cải xuất kho lại rơi vào tay bọn tham nhũng, thật chẳng có lúc nào mà quá như lúc này.
Hãy nêu lên cái nguyên nhân sinh ra những tệ hại ấy bằng cách nào để sửa đổi và có tin là sửa đổi được không?"
Vũ Kiệt trả lời:
"Thần cho rằng: Câu hỏi của bệ hạ là muốn để tâm làm trong sạch mọi dòng vẩn đục, và mong muốn các quan noi theo đó để làm chuẩn mực. Thần nghe lời giải thích trong kinh Xuân Thu “sự thành bại của quốc gia là xuất phát tự sự trung thực hay gian tà của các quan".
"Quan lại thất đức, việc ăn hối lộ được đưa ra ánh sáng thì thói tham lam không thể phát triển mãi được..."
Vũ Kiệt cũng chỉ ra nguyên nhân có tính chất rất chung của cái xấu ở con người:
"Con người sinh ra không thể không có sự ham muốn, nếu con người không làm chủ được sự ham muốn ấy thì sẽ sinh ra rối loạn". Và trong điều kiện lúc bấy giờ:
"Vả lại gần đây, trong thời Thái Hoà Diên Minh trị vì, con người sống lâu trong thời bình, nên có phần sơ xuất về màng lưới ngăn cấm trong đời sống hàng ngày. Trong khi làm việc công thì thường quan hệ tới việc quà cáp, tết nhất, dùng của đút lót làm lễ vật hàng ngày, giầy dép quần áo diêm dúa, tiêu pha hoang phí, tệ tham nhũng tích tụ thành thói quen, điềm nhiên cho đó là việc thường.”
Vũ Kiệt vạch ra những cách khắc phục.
“Thần thấy tuy bệ hạ nghiêm khắc trong việc tra xét kẻ gian, tín cẩn biểu dương người tốt nhưng chưa vạch trần bộ mặt của đám tiểu nhân được...”
""
“Thần thấy trong Kinh lễ có câu: “Đại thần giữ phép, tiểu thần sẽ liêm chính" là có ý nói những việc làm của quan cấp cao thực để cho cấp dưới xem xét và noi theo.
“Lấy lý mà nói thì bọn tiểu lại, bọn trộm cướp còn tự thay đổi trước sự giáo hoá của quan lệnh trong ấp, huống hồ thuộc lại đối với các bậc quan trên”.
Một trong những chỗ cần khắc phục chính đó là hệ thống quan cấp cao, nắm giữ quyền binh, nguồn của cải của triều đình:
“Nhưng phép thuật ngày nay thì người làm quan lớn hoặc ban ơn để tỏ rằng mình là người hiểu biết, hoặc rêu rao cái danh để cho cấp dưới cầu cạnh, sai bảo người khác, ban bố mệnh lệnh đều trái với lẽ phải, khinh trọng thiên lệch...khi tìm được chỗ hở thì gây ra tệ lậu bán buôn... Hoặc không giữ chắc của công, hoặc lấy của công làm của tư, họ dám đùa bỡn với báu vật..."
Và cách khắc phục :
“Thần mong bệ hạ hãy tuyển chọn những người công minh trong sạch và ngay thẳng, lấy danh vị trao cho họ trọng trách.
"Ra lệnh cho quan ngự sử kiểm soát, khích lệ biểu dương để thấy được những quan liêm khiết và nêu từng việc để biết được sự liêm khiết của họ. Ông quan nào thuộc hạng ô lại và cũng lấy việc ấy để nêu cái ô nhục của họ, để điều trần tâu lên chính xác rõ ràng. Nếu quả thực họ là
người liêm khiết thì ân thưởng u đãi và quan trường cũng được ban thưởng. Nếu quả thực họ là kẻ tham ô thì hình phạt không tha thứ và trưởng quan cũng tuỳ theo đó mà bị xử phạt. Làm như vậy thì con người sẽ tốt lên, thói tham sẽ ngăn chặn được..."
Vũ Kiệt nêu trách nhiệm của quan cấp trên và sự gương mẫu của cấp trên như một nguyên lý tự nhiên cho toàn bộ hệ thống quan lại.
“Nếu như các bậc trưởng quan chẳng phải là người tốt mà muốn bọn quan lại cấp dưới phải sống trong sạch, thế chẳng khác nào nước đầu nguồn đục mà mong cho dòng trong".
Bài văn sách Đình đối của Trạng nguyên Vũ Kiệt còn đề cập đến nhiều vấn đề khác của đời sống xã hội về phong tục và thuần hoá phong tục, về "lễ”, hệ thống quy chế lễ nghi, thứ bậc... như những quy phạm, những chuẩn mực về đạo đức, pháp độ, .v.v...
Đọc bài văn sách Đình đối của Vũ Kiệt, cũng như một số bài văn sách đình đối của các Trạng nguyên khác, chúng ta có thêm được một số nhận định.
Các Trạng nguyên đã bộc lộ tri thức toàn diện:
Về Hán học, về văn học, sử học và chính trị kể cả nghị lực và dũng khí của bậc sĩ quân tử.
- Từ thành tựu cao vọi của sự học hành khoa cử, Vũ Kiệt cũng như các trạng nguyên khác đã trở thành những vị quan tài đức toàn vẹn, góp phần quan trọng trong sự nghiệp “kinh bang tế thể” mà ngày nay chúng ta vẫn dồi dào sức cổ vũ sáng soi.
B. BẢNG NHÃN NGUYỄN KIM AN (1451- ?)
Người xã Thời Cử, huyện Đường An. Nay là thôn Tuyển Cử, xã Tân Hồng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương.
Năm 22 tuổi, đỗ Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ đệ nhị danh (Bảng nhãn) khoa Nhâm Thìn, niên hiệu Hồng Đức 3 (1472) đời Lê Thánh Tông.
Làm quan đến chức Hàn lâm viện thị thư.
C. THÁM HOA VƯƠNG KHẮC THUẬT
Người xã Cối Giang, huyện Đông Ngàn. Nay là thôn Lộc Hoà, xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, Hà Nội.
Đỗ Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ đệ tam danh (Thám hoa) khoa Nhâm Thìn, niên hiệu Hồng Đức 3 (1472) đời Lê Thánh Tông.
Ông hai lần được cử đi sứ (1476- 1488) sang nhà Minh. đến chức Tham chính.
Làm quan

Tổng số điểm của bài viết là: 20 trong 4 đánh giá

Xếp hạng: 5 - 4 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Thống kê truy cập
  • Đang truy cập36
  • Hôm nay5,894
  • Tháng hiện tại28,244
  • Tổng lượt truy cập1,705,377
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây