Các vị Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa qua các Triều đại phong kiến Việt Nam

Chủ nhật - 05/01/2025 18:52 53 0

Các vị Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa qua các Triều đại phong kiến Việt Nam

Các vị Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa qua các Triều đại phong kiến Việt Nam

24. KHOA TÂN MÙI- HỒNG THUẬN 3 (1511) LÊ TƯƠNG DỰC

A . TRẠNG NGUYÊN HOÀNG NGHĨA PHÚ (1480 - ?)
Nguyên quán xã Mạc Xá, huyện Chương Đức. Nay thuộc huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây. Trú quán xã Đan Khê, huyện Thanh Oai. Nay thuộc huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây. Con Trần Khắc Minh, cha Hoàng Tế Mỹ.
Đỗ Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ đệ nhất danh (Trạng nguyên) khoa Tân Mùi, niên hiệu Hồng Thuận 3 (1511) đời Lê Tương Dực.
Làm quan đến chức Tham tri chính sự kiêm Đô ngự sử.
Nguyên ông họ Trần, thân phụ là Trần Khắc Minh (1484), đến đời ông đổi thành họ Hoàng.
B. BẢNG NHÃN TRẦN BẢO TÍN (1483- ?)
Người xã Khải Mông, huyện Nghi Xuân. Nay thuộc huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.
(1) Năm 29 tuổi, đỗ Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ đệ nhị danh (Bảng
Khoa thi này (1511) lấy đỗ 47 Tiến sĩ.
nhãn) khoa Tân Mùi, niên hiệu Hồng Thuận 3 (1511) đời Lê Tương Dực.
Làm quan đến chức Lại bộ Tả thị lang. Khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê, ông ẩn cư ở núi Hoành Sơn rồi mất. Lê Trung Hưng truy tặng ông chức Thượng thư, phong phúc thần.
C. THÁM HOA VŨ DUY CHU (14 8 4 - ?)
Người xã Tu Lễ, huyện Sơn Minh. Nay thuộc huyện Ủng Hoà, tỉnh Hà Tây.
Năm 28 tuổi, đỗ Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ đệ tam danh (Thám hoa) khoa Tân Mùi, niên hiệu Hồng Thuận 3 (1511) đời Lê Tương Dực . Làm quan đến chức Tả thị lang.

25. KHOA GIÁP TUẤT- HỒNG THUẬN 6 (1514) LÊ TƯƠNG DỰC

A. TRẠNG NGUYÊN NGUYỄN ĐỨC LƯỢNG (1465 - ?)
Người xã Canh Hoạch, huyện Thanh Oai. Nay là thôn Canh Hoạch, xã Dân Hoà, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây, con của Nguyễn Bá Ký, cha Nguyễn Khuông Lễ.
Năm 51 tuổi, đỗ Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ đệ nhất danh (Trạng nguyên) khoa Giáp Tuất, niên hiệu Hồng Thuận 6 (1514) đời Lê Tương Dực. Lúc đầu tên là Hề được vua phê cho đổi tên là Đức Lượng.
Làm quan đến chức Lễ bộ Thị lang. Sau khi mất được truy tặngThượng thư.
Giai thoại về Trạng nguyên Nguyễn Đức Lượng
Người khai đại khoa cho dòng họ Nguyễn ở Canh Hoạch là ông Nguyễn Bá Ký. Cuốn sách mới nhất “Các nhà khoa bảng Việt Nam 1075 – 1919” đoạn viết “Phạm Bá Ký người xã Canh Hoạch huyện Thanh Oai... cha của Phạm Quý Lượng, ông nội Phạm Khuông Lễ". Bản dịch văn bia lưu ở Quốc tử giám khắc tên những người đỗ tiến sĩ khoa Quý Mùi niên hiệu Quang Thuận năm thứ tư (1463) cũng ghi là Phạm Bá Ký. Thế nhưng các đời sau Phạm Bá Ký như trạng Nguyễn
('). Khoa thi này (1514) lấy đỗ 43 Tiến sĩ.
”. Theo tài liệu của Nguyễn Hữu Thức trong sách “Danh nhân Hà Tây".
Đức Lượng, tiến sĩ Khuông Lễ là con và cháu của ông, các văn bia, sách Đại Việt sử ký toàn thư, Đăng khoa lục và một số tài liệu của các soạn giả và phả tộc đều ghi là họ Nguyễn. Như vậy, vấn đề đặt ra: Tại sao ông Nguyễn Bá Ký đi thi lại đổi sang họ Phạm hay tại sao tổ tiên họ Nguyễn ở Canh Hoạch từ sau ông Phạm Bá Ký đang là họ Phạm lại đổi sang họ Nguyễn. Quả là vấn đề rất lý thú xin dẫn ra để tham khảo đợi đủ tư liệu mới biện minh. Còn theo các cụ ở dòng họ Nguyễn Canh Hoạch thì dòng họ này có quan hệ thân tộc với dòng họ Nguyễn Trãi ở Nhị Khê từ thời Nguyễn Phi Khanh cha của Nguyễn Trãi vốn ở làng Chi Ngãi (Chí Linh- Hải Dương) dời sang Nhị Khê lấy đó là bản quán. Lúc bấy giờ có một người em cùng đi lập quê ở Canh Hoạch. Các cụ khẩu truyền câu “Anh ở Ngọc ổi” (tên cũ làng Nhị Khê) em về Cổ Hạc (tên cũ làng Canh Hoạch). Gặp thời nhiễu nhương, sự kiện Lệ Chi Viên (4-8-1442) đã dẫn đến cái án bất công nhất trong lịch sử; đại công thần Nguyễn Trãi bị tru di tam tộc. Vì có liên quan nên dòng họ Nguyễn ở Canh Hoạch phải đổi họ để đi thi. Đợi tới khi “bể yên gió lặng" Nguyễn Trãi được vua Lê Thánh Tông minh oan, con cháu dòng họ Nguyễn ở Canh Hoạch mới cải đổi về họ cũ.
Phạm Bá Ký tức Nguyên Bá Ký đỗ đệ Tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa Quý Mùi niên hiệu Quang Thuận 4 (1463) đời Lê Thánh Tông. Ông làm quan to trong triều thăng đến chức Binh bộ Thượng
thu.
Nguyễn Đức Lượng, sách Các nhà khoa bảng Việt Nam 1075- 1919, chú rõ ông là: “Người xã Canh Hoạch, huyện Thanh Oai. Con của Nguyễn Bá Ký, cha Nguyễn Khuông Lễ. Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ đệ nhất danh (Trạng nguyên) khoa Giáp Tuất niên hiệu Hồng Thuận 6 (1514) đời Lê Tương Dực. Thi đỗ năm 50 tuổi. Lúc đầu tên là Hề được Vua phê cho đổi tên là Đức Lượng. Làm quan đến chức Lễ bộ Tả thị lang. Sau khi mất được tặng Thượng thư". Sách Các Trạng nguyên nước ta thêm chi tiết “Trạng nguyên Nguyễn Đức Lượng được đi sứ phương Bắc khi mất được thăng chức Thượng thư".
Nguyễn Khuông Lễ con của Nguyễn Đức Lượng, cháu Nguyễn Bá Ký, đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa Ất Mùi niên hiệu Đại Chính 6 (1535) đời Mạc Đăng Doanh, được đi sứ, làm quan đến chức Hữu thị lang, tước bá.
Vài nét sơ lược tiểu sử các vị đại khoa của dòng họ Nguyễn cho thấy rõ sau khi đỗ các vị đều được bổ nhiệm làm quan, về cuối đời đều được thăng thưởng chức tước to trong triều. Đáng chú ý là hai cha con Nguyễn Đức Lượng và Nguyễn Khuông Lễ được tiến cử đi sứ chứng tỏ dòng họ Nguyễn ở Canh Hoạch tổ tiên có khiếu ngoại giao. Tưởng nhớ những người hiền tài trong họ, hàng năm họ Nguyễn tổ chức việc họ lớn vào ngày 15 tháng 2.
Trong nhà thờ Trạng nguyên có đôi câu đối rất hay:
Phiên âm:
Cựu Trạng nguyên, sanh Trạng nguyên nhất
giáp khoa danh quang sử bút,
Phụ tiến sĩ, tử tiến sĩ bát truyền chung
đỉnh dụ gia khương.
Dịch nghĩa:
Cậu Trạng nguyên, cháu Trạng nguyên, Khoa danh đỗ đầu sáng danh sử sách
Cha tiến sĩ, con tiến sĩ, tám đời quyền
quý phúc đầy nhà.
Từ xưa tới nay dân làng Canh Hoạch vẫn còn truyền đời câu chuyện ly kỳ về Trạng cậu, Trạng cháu. Kể rằng: ông Nguyễn Đức Lượng có người em gái là Nguyễn Thị Hiền giỏi giang, xinh xắn, dáng vẻ con nhà thi thư, quyền quý. Lúc chưa thành đạt ông có mời một người thầy địa lý tìm cho ngôi đất để mộ tổ phụ. ông thầy địa lý tìm được kiểu đất rất đẹp nhưng bảo 3 năm sau mới đặt mộ. Sắp tới ngày đặt mộ thì ở làng Tảo Dương có công tử Nguyễn Doãn Toại con ông Nguyễn Doãn Địch đỗ Thám hoa khoa Tân Sửu niên hiệu Hồng Đức 12 (1481) đời Lê Thánh Tông mắc bệnh phong bỏ làng ra làm lều ở kiểu đất trên con Hoả Tinh mà ông thầy địa lý đã chọn cho gia đình ông Lượng đặt mộ.
Thấy vậy gia đình ông Lượng tìm đủ mọi lý lẽ thuyết phục công tử Toại chuyển chỗ ở, cậu ta vẫn không nghe. Cho tới ngày thầy địa lý sang định ngày giờ đặt mộ, công tử Toại vẫn không thuận theo ý gia đình ông Lượng buộc lòng ông Lượng phải thú thực công việc đại sự của
nhà để công tử thông cảm. Nghe xong, công tử Toại xin ông Lượng cho cô em gái xinh đẹp tên là Hiền ra trò chuyện với chàng một đêm thì hôm sau công tử sẽ chuyển chỗ
Về nhà ông Lượng than thở với thầy địa lý, ai dè cô em gái biết chuyện xin anh tự nguyện ra với công tử.
Đêm đó hai người đang ái ân mặn nồng thì công tử Toại đột tử trên bụng. Cô Hiền vội vàng về cấp báo gia đình. Nghe tin dữ, ông Lượng cho người xuống báo tin không may để gia đình ông Thám hoa Nguyễn Doãn Địch biết cùng nhau lo liệu an táng cho công tử Toại ở chỗ khác và cũng dự kiến sáng hôm sau mang mộ tổ đặt vào kiểu đất
đó.
Sáng hôm sau hai gia đình ra thì tử thi công tử Toại đã bị mối bồi đất táng thành đống. Ông Lượng chỉ còn kêu trời cho nhà mình hết phúc đành táng mả bố bên mộ công tử Toại, gọi là huyệt bàng.
Em gái ông mang thai, ông Lượng buồn phiền lo liệu làm cho em gái căn nhà nhỏ ở rìa làng. Về sau cô Hiền sinh cậu con trai đặt tên là Nguyễn Thiến. Thiến rất thông minh, học đâu nhớ đấy, kịp 6 tuổi đã giục mẹ cho lên theo học ông cậu là Nguyễn Đức Lượng.
Nguyễn Đức Lượng thi đỗ Trạng nguyên nhậm chức ra làm quan. Nguyễn Thiến ở nhà đèn sách theo nghiệp cậu mở lớp dạy học. Bấy giờ triều đình chia bè kéo đảng lộn xộn, đợi khi triều Mạc thịnh bình đến năm 1532 đời Mạc Đăng Doanh, Nguyễn Thiến mới đèn sách đi thi. Khoa thi ấy ông đỗ Trạng nguyên.
Truyền thuyết trên vốn lưu truyền lâu đời ở làng. Một số sách thời trước đều có ghi như Đại Nam long thủ tục (hiện còn bản lưu ở dòng họ chép các truyện ly kỳ về các Trạng nguyên ở nước ta), sách Lịch đại danh hiền phổ và Đăng khoa lục sưu giảng của tiến sĩ Trần Tiến, đỗ năm 1748 làm Thượng thư triều Lê Cảnh Hưng. Phải nói câu chuyện đã thể hiện được tấm lòng ngưỡng mộ của dân chúng về hai vị Trạng nguyên có quan hệ thân tộc: Trạng cậu, Trạng cháu, lại cùng từ một nơi nuôi dưỡng phát triển tài năng là làng Canh Hoạch.
Nói như vậy để thấy quê nội của Trạng nguyên Nguyễn Thiến ở Tảo Dương nhưng ông sinh sống, học hành ở Canh Hoạch. Các thư tịch cổ đều chú giải Nguyễn Thiến người trang Tảo Dương sau dời cư sang quê ngoại xã Canh Hoạch". Có lẽ việc dời cư sang sống ở Canh Hoạch từ
thời Thám hoa Nguyễn Doãn Địch chăng. Chẳng thế sách Các nhà khoa bảng Việt Nam 1075 - 1919 đã ghi “Nguyễn Doãn Địch nguyên quán xã Tảo Dương, trú quán xã Canh Hoạch, ông nội Nguyễn Thiến". Cũng sách nêu trên tóm tắt cuộc đời Trạng nguyên Nguyễn Thiến như sau: “Nguyễn Thiến, người xã Canh Hoạch huyện Thanh Oai, 38 tuổi đỗ Hội nguyên, được ban đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ đệ nhất (Trạng nguyên) khoa Nhâm Thìn niên hiệu Đại Chính 3 (1532) đời Mạc Đăng Doanh. Ông làm quan nhà Mạc đến chức Lại bộ Thượng thư, Ngự sử đài đô ngự sử, Đông các đại học sĩ, Nhập thị kinh diên, tước Thư quận công. Sau vì bất mãn với nhà Mạc, ông cùng với thông gia là đại tướng Thái tể phụng quốc công Lê Bá Ly dẫn quân chúng trốn vào Thanh Hoá quy thuận triều Lê Trung Hưng. Vua Lê Trung Hưng ban thưởng, cho giữ nguyên các chức tước, đảm trách việc tuyển bổ quan lại cho nhà Lê trong khoảng 8 năm. Ông mất năm Thiên Hựu (1557) đời Lê Anh Tông, thọ 63 tuổi.
Nguyễn Thiến tên hiệu là Cảo Xuyên là danh sĩ có tiếng ở thế kỷ XVI. ông đỗ Trạng nguyên trước Nguyễn Bỉnh Khiêm một khoa, sau đó hai vị Trạng nguyên này thường xướng họa thơ văn với nhau. Hiện còn một số bài thơ của Nguyễn Thiến chép trong Toàn Việt thi lục và Bạch Vân am thi tập.
Kể từ khi Nguyễn Thiến dời cư lên sống ở quê ngoại, ông coi đó là vùng đất nuôi dưỡng và giúp ông thành đạt do vậy các con ông đã để lại nhiều kỉ niệm với làng Vác (Canh Hoạch). Người Canh Hoạch cũng coi những người trong gia đình ông như là người làng mình.
Từ đền thờ Trạng cậu, du khách đi về hướng đông để thăm nơi ở xưa của bà Nguyễn Thị Hiền- mẹ Trạng nguyên Nguyễn Thiến. Nơi đây dân làng vác đã làm một nhà sắc bảo lưu những tờ sắc vua ban cho những người tiết hạnh, hiền tài trong gia đình Trạng nguyên Nguyễn Thiến là cha của Nguyễn Quyện một danh tướng lỗi lạc thời nhà Mạc.
Cũng cần nói thêm Trạng nguyên Nguyễn Thiến cha của danh tướng Nguyễn Quyện là thuỷ tổ của đại thi hào Nguyễn Du tác giả áng thơ nôm tuyệt diệu: Truyện Kiều. Điều đó đã được khẳng định qua phả hệ của dòng họ Nguyễn Du ở huyện Tiên Điền (Nghệ An). Nguyễn Thiến sinh ra Nguyễn Miễn tước Phù Hưng hầu. Người con thứ ba của Nguyễn Miễn là Nguyễn Nhiệm (Nhậm) tước Nam Dương hầu, năm 1601 tụ binh chống lại nhà Lê ở vùng Hoàng Giang (Ninh Bình), thất
bại, chạy vào ẩn cư ở Tiên Điền (Nghệ An) là cụ tổ của họ Nguyễn- Tiên Điền sau này sinh ra thi hào Nguyễn Du. Có thể nói thi hào Nguyễn Du đã tiếp nối và làm toả sáng truyền thống thi thư của tổ tiên ông vốn có từ Thám hoa Nguyễn Doãn Địch người làng Tảo Dương và Trạng nguyên Nguyễn Thiến trú quán ở làng Canh Hoạch, trang Cổ Hoạch
xưa.
B . BẢNG NHÃN NGUYỄN CHIÊU HUẤN
Người xã Yên Khang, huyện Yên Phong. Nay thuộc xã Vạn An, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Cha của Nguyễn Khắc Khoan.
Đỗ Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ đệ nhị danh (Bảng nhãn) khoa Giáp Tuất, niên hiệu Hồng Thuận 6 (1514) đời Lê Tương Dực.
Ông từng được cử đi sứ sang nhà Minh. Làm quan đến chức Thượng thư.
C, THÁM HOA HOÀNG MINH TÁ
Người xã Hoàng Xá, huyện Cẩm Giàng. Nay là thôn Hoàng Xá, xã Cẩm Điền, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương.
Đỗ Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ đệ tam danh (Thám hoa) khoa Giáp Tuất, niên hiệu Hồng Thuận 6 (1514) đời Lê Tương Dực.
Làm quan đến chức Thừa chính sứ, về trí sĩ.

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá

Xếp hạng: 5 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Thống kê truy cập
  • Đang truy cập16
  • Hôm nay5,894
  • Tháng hiện tại28,212
  • Tổng lượt truy cập1,705,345
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây