III. DANH SÁCH CÁC VỊ TAM KHÔI TRIỀU MẠC
29. KHOA KỶ SỬU- MINH ĐỨC 3 (1529) MẠC ĐĂNG DUNG
A. TRẠNG NGUYÊN ĐỖ TÔNG (1504 - ?)
Người xã Lại Ốc, huyện Tế Giang. Nay là thôn Lại Ốc, xã Long Hưng, huyện Giang Văn, tỉnh Hưng Yên. Con Đỗ Nhân, anh Đỗ Tấn.
Năm 26 tuổi, đỗ Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ đệ nhất danh (Trạng nguyên) khoa Kỷ Sửu, niên hiệu Minh Đức 3 (1529) đời Mạc Đăng Dung. Làm quan đến chức Hình bộ Tả thị lang, Đông các đại học sĩ. Sau khi mất được truy tặng Hình bộ Tả thị lang.
B . BẢNG NHÃN NGUYỄN HÃNG (1488 - ?)
Nguyên quán xã Vũ Lăng, huyện Thượng Phúc. Nay thuộc xã Thắng Lợi, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây. Trú quán xã Thắng Lãm. Nay thuộc xã Phú Lương, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây.
Năm 42 tuổi, đỗ Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ đệ nhị danh (Bảng nhãn) khoa Kỷ Sửu, niên hiệu Minh Đức 3 (1529) đời Mạc Đăng Dung. Làm quan đến chức Thị lang, Đông các đại học sĩ.
C. THÁM HOA NGUYỄN VĂN HUY (1486 - ?)
Người xã Vịnh Cầu, huyện Đông Ngàn. Nay là thôn Vịnh Cầu, xã Đồng Nguyên, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Cha Nguyễn Trọng Quýnh, Nguyễn Đạt Thiệu, Nguyễn Hiển Tích; ông nội Nguyễn Giáo Phương.
Năm 44 tuổi, đỗ Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ đệ tam danh (Thám hoa) khoa Kỷ Sửu, niên hiệu Minh Đức 3 (1529) đời Mạc Đăng Dung. Làm quan đến chức Lễ bộ Thượng thư, về trí sĩ.
(1) Khoa thi này (1529) triều Mạc lấy đỗ 27 Tiến sĩ.
30. KHOA NHÂM THÌN- ĐẠI CHÍNH 3 (1532) MẠC ĐĂNG DOANH
A . TRẠNG NGUYÊN NGUYỄN THIẾN (1495 - 1557)
Người xã Canh Hoạch, huyện Thanh Oai. Nay là thôn Canh Hoạch, xã Dân Hoà, huyện Thanh Oai, Hà Tây.
Năm 38 tuổi, đỗ Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ đệ nhất danh (Trạng nguyên) khoa Nhâm Thìn, niên hiệu Đại chính 3 (1532) đời Mạc Đăng Doanh
Ông làm quan nhà Mạc đến chức Lại bộ Thượng thư, Ngự sử đài đô ngự sử, Đông các đại học sĩ, Nhập thị kinh diễn, tước Thư quận công. Sau vì bất mãn với nhà Mạc, ông cùng với thông gia là đại tướng Thái tể Phụng Quốc công Lê Bá Ly dẫn quân vào Thanh Hoá quy thuận triều Lê Trung Hưng. Vua Lê Trung Hưng ban thưởng, cho giữ nguyên các chức tước đảm trách việc tuyển bổ quan lại cho nhà Lê trong khoảng 8 năm. Ông mất năm Thiên Hựu (1557) đời Lê Anh Tông, thọ 63 tuổi.
Con ông là Thượng Quốc công Nguyễn Quyện, danh tướng của nhà Mạc.
B. BẢNG NHÃN BÙI VỊNH (1498 - ?)
Người xã Định Công, huyện Thanh Đàm. Nay thuộc xã Định Công, huyện Thanh Trì. Tp. Hà Nội. Trú quán xã Thịnh Liệt. Nay thuộc xã Thịnh Liệt, huyện Thanh Trì, Tp. Hà Nội. Con ông Bùi Xương Trạch, cố nội Bùi Bỉnh Quân, viễn tổ Bùi Huy Bích.
Năm 35 tuổi, đỗ Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ đệ nhị danh (Bảng nhãn) khoa Nhâm Thìn, niên hiệu Đại Chính 3 (1532) đời Mạc Đăng Doanh. Làm quan đến chức Lại bộ Tả thị lang, tước Mai Lĩnh hầu.
C. THÁM HOA NGÔ SƠN KHOÁI (1491- ")
Người xã Đình Bảng, huyện Đông Ngàn. Nay là thôn Đình Bảng, xã Đình Bảng, huyện Từ Sơn, Bắc Ninh.
Năm 42 tuổi, đỗ Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ đệ tam danh (Thám hoa) khoa Nhâm Thìn, niên hiệu Đại Chính 3 (1532) đời Mạc Đăng Doanh. Làm quan đến chức Hình bộ Tả thị lang.
(") Khoa thi này (1532) triều Mạc lấy đỗ 27 Tiến sĩ.
31 . KHOA ẤT MÙI- ĐẠI CHÍNH 6 (1535) MẠC ĐĂNG DOANH
A . TRẠNG NGUYÊN NGUYỄN BỈNH KHIÊM
Người xã Trung Am, huyện Vĩnh Lại. Nay là thôn Trung Am, xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng.
Năm 45 tuổi, đỗ Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ đệ nhất danh (Trạng nguyên) khoa Ât Mùi”, niên hiệu Đại Chính 6 (1535) đời Mạc Đăng Doanh.
Những giai thoại về Nguyễn Bỉnh Khiêm
Người được dân gian truyền tụng và suy tôn là "Nhà tiên tri số 1" của nước ta là Trạng Trình, vì ông đã cho ra đời hàng loạt những lời tiên tri cho hậu thế mà người đời gọi là "Sấm Trạng Trình". Một điều khá lý thú là cách đây ngót 500 năm, ngay trang đầu của tập Trình tiên sinh quốc ngữ của Trạng Trình có ghi “Việt Nam khởi tổ xây nền", ông đã khẳng định nước ta tên là Việt Nam. Một sự tiên đoán vô cùng chính xác.
Trạng Trình mà nhân dân thường gọi chính là Nguyễn Bỉnh Khiêm, tên huý là Nguyễn Văn Đạt, vì ông đỗ Trạng nguyên, người làng Trình Tuyền (Trung Am) huyện Vĩnh Lại, nay là Vĩnh Bảo- Hải Phòng.
Thân phụ ông là Thái Bảo Nghiêm quận công Nguyễn Văn Định, thân mẫu là bà Nhữ Thị Thục, con gái quan Thượng thư Nhữ Văn Lan là người giỏi văn thơ và am hiểu lý số.
Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh năm Tân Hợi (1491) đời Vua Lê Thánh Tông, mặt mũi khôi ngô, tuấn tú, tư chất khác thường, một tuổi đã nói sõi lên năm tuổi được mẹ dạy cho kinh sách, truyền miệng cho thơ văn chữ Nôm, ông học đâu nhớ dấy, không quên chữ nào.
Lớn lên được theo học Bảng nhãn Lương Đắc Bằng ở làng Lạch Triều, huyện Hoằng Hoá (Thanh Hoá). Ông đã sáng dạ, thông minh lại nết na, chăm chỉ học hành nên được thầy rất khen ngợi.
Vì tình hình đất nước không ổn định nên mãi đến năm Giáp Ngọ (1534), khi 44 tuổi, Nguyễn Bỉnh Khiêm mới đi thi, đỗ ngay Giải
(1) Khoa thi này (1535) lấy đỗ 32 Tiến sĩ.
nguyên, năm sau đi thi Hội, lại đỗ Hội nguyên, đi thi Đình, đỗ ngay Trạng nguyên.
Ông làm quan cho nhà Mạc được tám năm, đến đời Mạc Phúc Hải, thấy triều đình lắm kẻ gian thần, lộng quyền, đục khoét, ông dâng sớ chém mười tám lộng thần đều là những kẻ quyền quý cả. Vua Mạc không nghe. Ông trả lại mũ áo, cáo quan về mở trường dạy học. Ông dựng một cái am nhỏ bên hồ đặt tên am là Bạch Vân và lấy tên hiệu và Bạch Vân cư sĩ.
Ông vốn là người tha thiết với việc dân, việc nước, song vì triều đình đổ nát, vua quan hư hỏng, ông không muốn đem thân vào chốn đua chen nịnh hót, dấn thân vào đám bùn nhơ ô uế. Bởi thế phải xa lánh công danh về quê ẩn dật, ông vẫn đem hết tài trí và tâm huyết truyền cho đám học trò, ngầm mong họ sẽ thay ông giúp đời cứu nước. Nhiều học trò danh tiếng của ông như: Lương Hữu Khánh, Phùng Khắc Khoan, Nguyễn Dữ, Trương Thời Cử, v.v... sau này quả đã nối được chí thầy.
Dân gian truyền tụng nhiều về những câu nói có tính chiến lược của Trạng Trình đã giúp cho các vua chúa thời ông sống được vẹn toàn.
Đầu tiên là với vua Lê – Chúa Trịnh
Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê, đã diệt hầu hết tôn tộc nhà Lê. Sau đó cận thần nhà Lê là Nguyễn Kim đã khởi binh ở Sầm Nưa (Lào) chống lại nhà Mạc. Nguyễn Kim đã tìm được một người cháu (hậu duệ của vua Lê Thái Tổ) đem về lập làm vua, tức là Lê Trang Tông.
Năm 1545, Nguyễn Kim bị hàng tương nhà Mạc đánh thuốc độc chết, binh quyền nằm cả vào tay con rể là Trịnh Kiểm.
Năm 1556, Lê Trung Tông (con Lê Trang Tông) mất lại không con nối dõi, Trịnh Kiểm trù trừ tìm người dòng dõi nhà Lê lên nối ngôi, muốn tự mình lên ngôi Vua. Không biết nên thế nào cho phải, Trịnh Kiểm bèn bàn với Phùng Khắc Khoan. Phùng Khắc Khoan cũng phân vân, mới sai người đi Vĩnh Lại hỏi thầy mình là Trạng Trình. Nghe người đó trình bày xong, Trạng Trình không nói gì cả, chỉ ngoảnh lại bảo người nhà rằng:
Năm nay lúa không tốt, vì thóc giống không chắc. Chúng bay nên tìm thóc cũ gieo thì tốt.
Nói xong, Trạng Trình chống gậy đi chơi, khách đi theo, Trạng nói với nhà sư chứ không nói với khách.
- Nhà sư chăm cúng Phật mà ăn oản nhé.
Khách về nói lại với Phùng Khắc Khoan, Phùng Khắc Khoan trình bày với Thái sư Trịnh Kiểm. Trịnh Kiểm hiểu thâm ý của Trạng Trình khuyên hãy tôn phò nhà Lê lên làm vua cho thuận lòng dân, bèn sai người đến làng Bố Vệ rước Lê Duy Bang là cháu 6 đời của Lê Trừ (anh thứ hai của Lê Lợi) về lập làm Vua, tức là Lê Anh Tông.
Sau với chúa Nguyễn
Từ khi thay bố vợ là Nguyễn Kim, nắm binh quyền. Trịnh Kiểm sợ hai em vợ là Nguyễn Uông và Nguyễn Hoàng tranh giành quyền bính, nên Trịnh Kiểm đã ám hại Nguyễn Uông và ngấm ngầm ám hại nốt Nguyễn Hoàng. Nguyễn Hoàng sợ hãi, sai người tìm đến hỏi Trạng Trình xem nên làm thế nào để thoát khỏi bàn tay hãm hại của Trịnh Kiểm.
Được hỏi nhưng Trạng Trình không trả lời ngay, chỉ chống gậy ra sân, ngắm hòn non bộ, nhìn đàn kiến đang “leo núi" mà nói bâng quơ rằng: “Hoành sơn nhất đái, vại đại dung thân” (một dải núi Hoành Sơn có thể dung thân muôn đời).
Nguyễn Hoàng hiểu ý mới về nói với chị gái (vợ Trịnh Kiểm) xin cho mình vào trấn thủ đất Thuận Hoá. Trịnh Kiểm nghĩ Thuận Hoá là nơi biên cương cùng đường, tuyệt lộ, đất cằn người thưa, dẫu Nguyễn Hoàng có phản nghịch thì chẹn đường, sai tướng đánh dẹp là xong, còn hơn giết đi thì sợ thất nhân tâm, mà giữ ở lại thì lo ngay ngáy ngày đêm, nên đã đồng ý cho Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hoá vào năm Mậu Ngọ (1558).
Không ngờ Nguyễn Hoàng tự nhún mình, khai khẩn đất hoang, mở mang bờ cõi về phía Nam, một mặt thần phục họ Trịnh, thỉnh thoảng còn cho người ra Thanh Hoá xin viện binh đánh Chiêm Thành nữa. Đến khi đủ lực lượng, họ Nguyễn mới ra mặt tuyên chiến với họ Trịnh từ năm 1627, gây dựng lên cơ nghiệp các chúa Nguyễn Đàng Trong.
Mùa Đông năm Ất Dậu (1585), Nguyễn Bỉnh Khiêm lâm bệnh nặng. Nghe tin Trạng Trình bệnh nặng, Vua Mạc Mậu Hợp cử quan
Khâm sai ve noi xin ý kiến Trạng về tương lai. Trạng Prrad nối: Lưu Bằng tuy thiểu, khả năng sổ thế (Cao Bằng tuy nhỏ cũng được vài đời).
Quả nhiên sau này bị thất bại, nhà Mạc chạy lên Cao Bằng và còn tồn tại ở đấy được đến năm 1677 mới mất hẳn.
Trạng Trình mất, thọ 95 tuổi. Lễ tang ông có quan phụ chính triều đình là Ứng vương Mạc Đôn Nhượng dẫn đầu các quan đại thần về dự. Việc vua Mạc cử người được nhà vua coi như cha về dự lễ tang nói lên sự trân trọng rất lớn của nhà Mạc với Trạng Trình. Trong buổi lễ tang ấy, Ứng vương đã thay mặt vua truy tặng Nguyễn Bỉnh Khiêm từ tước Trình Tuyền hầu lên tước Thái phó Trình quốc công.
B. BẢNG NHÃN BÙI DOÃN ĐỐC (1510 - ?)
Người xã An Thọ, huyện Từ Liêm. Nay là thôn An Thọ, xã An Khánh, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây. Cụ nội (5 đời) của Bùi Văn Trinh (xã Hương Canh).
Năm 26 tuổi, đỗ Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ đệ nhị danh (Bảng nhãn) khoa Ất Mùi, niên hiệu Đại chính 6 (1535) đời Mạc Đăng Doanh. Làm quan đến chức Hàn lâm thị thư.
C. THÁM HOA NGUYỄN THỪA HƯU (1491- ?)
Người xã Vĩnh Thế, huyện Siêu Loại, Nay là thôn Tư Thế, xã Trí Quả, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh. Cha của Nguyễn An.
Năm 45 tuổi, đỗ Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ đệ tam danh (Thám hoa) khoa Ât Mùi, niên hiệu Đại Chính 6 (1535) đời Mạc Đăng Doanh. Làm quan đến chức Tham chính.
Ý kiến bạn đọc