Các vị Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa qua các Triều đại phong kiến Việt Nam

Thứ năm - 09/01/2025 18:58 35 0

Các vị Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa qua các Triều đại phong kiến Việt Nam

Các vị Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa qua các Triều đại phong kiến Việt Nam

45. KHOA CANH THÌN- DIỄN THÀNH 3 (1580) MẠC MẬU HỢP

Khoa thi này Đệ nhất giáp, tam khôi không có Trạng nguyên, Bảng nhãn, chỉ có Thám hoa.
A. THÁM HOA ĐỖ CUNG (1555 - ?)
Người xã Đỗ Xá huyện Đường Hào. Nay là thôn Đỗ Xá, xã Trai Trang, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên. Trú quán xã Phù Vệ. Nay thuộc xã Chiến Thắng (cũ), huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên. Con của Đỗ Trác Dị (Tiến sĩ khoa Đinh Mùi- 1547); ông nội của Đỗ Thạnh (Tiến sĩ khoa Tân Sửu- 1661).
Năm 26 tuổi, đỗ Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ đệ tam danh (Thám hoa) khoa Canh Thìn, niên hiệu Diên Thành 3 (1580) đời Mạc Mậu Hợp. Làm quan đến chức Đông các hiệu thư.
(1) Khoa thi này (1580) triều Mạc lấy đỗ 24 Tiến sĩ. LTĐK chỉ ghi được 17 người.

46. KHOA QUÝ MÙI- DIỄN THÀNH 7 (1583) MẠC MẬU HỢP

Khoa thi Quý Mùi, Đệ nhất giáp, tam khôi không có Trạng nguyên, Bảng nhãn, chỉ có Thám hoa.
A. THÁM HOA NGUYỄN TUẤN NGẠN (1554 - ?)
-
Người xã Đoàn Xá, huyện Minh Sơn. Nay là thôn Đoàn Xá, xã Đồng Tiến, huyện Ứng Hoà, tỉnh Hà Tây.
Năm 30 tuổi đỗ Hội nguyên, Đình nguyên, Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ đệ tam danh (Thám hoa) khoa Quý Mùi, niên hiệu Diên Thành 7 (1583) đời Mạc Mậu Hợp.
Sau theo về nhà Lê, làm quan đến chức Tham chính.

47. KHOA BÍNH TUẤT - ĐOAN THÁI 1 (1586) MẠC MẬU HỢP

Khoa thi Bính Tuất, Đệ nhất giáp, tam khôi không có Trạng nguyên, Bảng nhãn, chỉ có Thám hoa.
A. THÁM HOA NGUYỄN GIÁO PHƯƠNG (1549 - ?)
Người xã Vịnh Kiều, huyện Đông Ngàn. Nay là thôn Vịnh Kiều, xã Đồng Nguyên, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Con của Nguyễn Trọng Quýnh (Hoàng giáp khoa Đinh Mùi – 1547); cháu nội Nguyễn Văn Huy (Thám hoa khoa Kỷ Sửu – 1529); Cháu họ Nguyễn Đạt Thiện (Hoàng giáp khoa Kỷ Mùi – 1559) và Nguyễn Hiển Tích (Tiến sĩ khoa Ất Sửu
1565).
Năm 38 tuổi, đỗ Hội nguyên, Đình nguyên, Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ đệ tam danh (Thám hoa) khoa Bính Tuất”, niên hiệu Đoan Thái 1 (1586) đời Mạc Mậu Hợp.
Theo về nhà Lê, sau lại theo nhà Mạc.
(1) Khoa thi này (1583) triều Mạc lấy đỗ 18 Tiến sĩ.
(2). Khoa thi này (1586) triều Mạc lấy đỗ 23 Tiến sĩ. Có trường hợp của Nguyễn Trung người làng Nhân Mục Môn, huyện Thanh Trì (nay thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, TP Hà Nội), thi Hội trúng cách, nhưng vì có người tố cáo nên không được dự thi Đình. Nguyễn Trung sau làm quan đến chức Tham chính, là cha của Nguyễn Tuấn (Tiến sĩ khoa Quý Sửu (1613). 

IV. DANH SÁCH CÁC VỊ TAM KHÔI TRIỀU LÊ TRUNG HƯNG
48. KHOA
MẬU THÌN- VĨNH TỘ (1628) LÊ THẦN TÔNG

Khoa thi này Đệ nhất giáp, tam khôi không có Trạng nguyên, Bảng nhãn, chỉ có Thám hoa.
A. THÁM HOA GIANG VĂN MINH (1573- 1638)
Người xã Mông Phụ, huyện Thượng Phúc. Nay là thôn Mông Phụ, xã Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, tỉnh Hà Tây.
Năm 56 tuổi, đỗ Hội nguyên, Đình nguyên, Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ đệ tam danh (Thám hoa) khoa Mậu Thìn, niên hiệu Vĩnh Tộ 10 (1628) đời Lê Thần Tông.
Năm Đinh Sửu, niên hiệu Dương Hoà 10 (1637) ông giữ chức Tự Khanh, được cử đi sứ sang nhà Minh. Tương truyền người nhà Minh ra câu đối “Đồng trụ chí kim đài dĩ lục” (Đồng trụ đến nay rêu mọc rậm) có ý nhắc việc Mã Viện dẹp cuộc nổi dậy của Hai Bà Trưng. Ông ung dung đối lại “Đằng Giang tự cổ huyết do hồng” (Sông Đằng thuở trước máu còn loang). Người Minh biết ông dẫn việc quân nhà Trần đánh tan quân Nguyên trên sông Bạch Đằng để chọi lại. Vì vậy căm tức sai người đầu độc nên ông qua đời trên đường đi sứ. Người Minh sai mổ lấy ruột, đổ thuỷ ngân vào bụng để chở thi hài ông về nước.
Ông được truy tặng chức Thị lang, tước Vinh quận công.

49. KHOA TÂN MÙI- ĐỨC LONG 3 (1631) LÊ THẦN TÔNG

Khoa thi này Đệ nhất giáp, tam khôi không có Trạng nguyên, Bảng nhãn, chỉ có Thám hoa.
A. THÁM HOA NGUYỄN MINH TRIẾT (1578 - 1672)
Người xã Lạc Sơn. huyện Chí Linh. Nay là thôn Lạc Sơn: xã An Lạc, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Sau đổi tên là Nguyễn Hậu
(1). Khoa thi này (1628) lấy đỗ 18 Tiến sĩ.
Quyến. Cháu nội của Nguyễn Minh Thiện (Tiến sĩ khoa Đinh Sửu 1577).
Năm 54 tuổi, đỗ Hội nguyên, Đình nguyên, được ban Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ đệ tam danh (Thám hoa) khoa Tân Mùi, niên hiệu Đức Long 3 (1631) đời Lê Thần Tông. Ngự bút của vua cho đổi lên là Thọ
Xuân.
Ông làm quan đến chức Công bộ Thượng thư, hàm Thiếu bảo tước Cẩm quận công, được về trí sĩ. Thọ 95 tuổi.
Tác phẩm hiện còn một bài thơ chép trong Toàn Việt thi lục.

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá

Xếp hạng: 5 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Thống kê truy cập
  • Đang truy cập45
  • Hôm nay5,894
  • Tháng hiện tại28,309
  • Tổng lượt truy cập1,705,442
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây