51 . KHOA BÍNH TUẤT- PHÚC THÁI 4 (1646) LÊ CHÂN TÔNG
Khoa thi này Đệ nhất giáp, tam khôi không có Trạng nguyên, Bảng nhãn, chỉ có Thám hoa.
A. THÁM HOA NGUYỄN ĐĂNG CẢO (1619 - ?)
(còn gọi là NGUYỄN ĐĂNG HẠO)
Người xã Hoài Bão, huyện Tiên Du. Nay là thôn Hoài Bão, xã Liên Bão, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Anh của Nguyễn Đăng Minh (Tiến sĩ khoa Bính Tuất (1646); bác của Nguyễn Đăng Tuân (Tiến sĩ khoa Quý Sửu- 1673); Nguyễn Đăng Đạo (Trạng nguyên khoa Quý Hợi 1683).
Năm 28 tuổi, đỗ Hội nguyên, Đình nguyên, Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ đệ tam danh (Thám hoa) khoa Bính Tuất, niên hiệu Phúc Thái 4 (1646) đời Lê Chân Tông. Sau đó lại đỗ đầu khoa Đông các, được bổ chức Đông các đại học sĩ (1659).
Ông chỉ làm quan ở viện Đông các chưa đầy 3 năm thì bị bãi chức. Theo TKBL (Tam khôi bí lục): ông là người cương trực, không theo thói đời nên bị nhiều người ghen ghét, vì thế mà không được trọng dụng.
Ông hồi trẻ có tài lạ, truyện đọc một lần là nhớ, bấy giờ gọi là thần đồng. Thi Hương, thi Hội, thi Đình, thi Đông các, ông đều đỗ đầu. Đi sứ nổi tiếng ở nước Tầu, Vua nhà Thanh châu phê tặng Khôi nguyên.
Năm Kỷ Mùi triều Phúc Thái, quân Thanh sang, ông theo lệnh vua mang lễ vật ra mừng, nói khéo làm cho họ không kéo tới Thăng Long. Ông hộ tống đến Lạng Sơn, sứ nhà Thanh ra đối rằng:
Điểu nhập phong, thực tận trùng nhi hoa phượng.
(Chim vào gió ăn hết sâu mà hoa phượng)
(Chữ phượng gồm chữ điểu viết trong chữ phong). Ông đáp rằng:
Nhân cư nhân trắc, đả phi thạch dĩ thạch tiên. (Người ở cạnh núi, đẽo đá để thành tiên)
Khoa thi này (1646) lấy đỗ 17 Tiến sĩ.
B (Chữ nhân đứng bên cạnh chữ nham bỏ chữ thạch, thành chữ tiên).
Đến cửa ải sau một tuần mưa dầm dề, bỗng nhiên trời hửng, sứ Tầu phơi sách, ông cũng kê ghế, dải chiếu, nằm phơi bụng ra. Sứ Tầu hỏi: “Sao ông lại làm như vậy?”. Ông đáp: “Sứ thần thượng quốc phơi sách, tôi phơi bụng”. Sứ Tầu thử tài nói: “Sách Đại học bản chính bị đốt mất rồi, phiền ngài viết lại cho”. Ông viết lại từ chính văn đến chú giải lớn, nhỏ như bản gốc, sứ Tầu kinh ngạc nói: “Năm trước quan Thái sư (nước Tầu) tâu vua Tầu: “Sao Văn Khúc giảng ở An Nam”, quả đúng như vậy”.
Tiếng đồn đến vua nhà Thanh, vua Thanh bắt ông làm bài phú giải thích cho chư hầu về việc róc tóc. Ông làm và đệ trình. Vua Tàu phê rằng: "Lời gọn ý tận và sâu sắc, phong thêm là khôi nguyên Bắc Triều”. Sau nhà Thanh lại đưa thư bắt ta nộp giường đồng một cái, 100 ông già đầu bạc, 100 người con gái tóc dài. Các quan không biết sử trí ra sao, ông nói: “Bắc triều loạn đã lâu, chi dùng không đủ nên đòi ta”.
Tôi xin 100 gốc lúa, 100 thúng muối, 100 con dê cái, để nộp". Người nhà Thanh thấy vậy kính phục. Họ lại đưa mười vuông gấm, đòi may thành các loại áo, mũ, xiêm, khăn, chăn, màn. Các quan không biết làm thế nào. Ông xin may một áo cổ dài, ống tay to và một cái quạt trong đề mấy câu rằng "Mặc trên là áo, trang điểm ở dưới là xiêm, có dòng là khăn, có ống là túi, khoanh đầu là mũ (miện) buông xuống có thể là màn, cho mình là chăn, vải xấu có thể trải giường”.. Tất cả cùng với tờ biểu đưa nộp cho họ. Người nhà Thanh bấy giờ kính phục và than rằng: "Địa linh, nhân kiệt đời nào cũng có, nhưng vượt trội hơn cả từ nay về sau chỉ có một Đăng Hạo”.
52. KHOA CANH DẦN- KHÁNH ĐỨC 2 (1650) LÊ THẦN TÔNG
Khoa thi này Đệ nhất giáp, tam khôi không có Trạng nguyên, Bảng nhãn, chỉ có Thám hoa.
A . THÁM HOA KHƯƠNG THẾ HIỀN (1608 - ?)
Người xã Bình Lãng, huyện Tứ Kỳ. Nay là xã Bình Lãng, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.
Nội) có gia đình họ Nguyễn, hoàn cảnh bần bách. Người con trai là Nguyễn Quốc Trinh lập chí ăn học, tìm sang làng bên cạnh học với một thầy đồ. Hàng tháng, bà chị gái cố gắng tằn tiện, mang tiền gạo đến chu cấp cho em.
Một hôm chị đến thăm, chẳng thấy cậu Trinh học hành gì cả, mà đang chơi thả diều giấy ngoài đồng. Chị lôi cậu em vào trình thầy học. Thầy nhìn cậu, nghiêm nghị:
-
Tội anh đáng đánh đòn. Nhân tiện có bà chị anh sang đây, ta cũng muốn để gia đình biết được sức học của anh. Nay thầy ra vế đối,
nếu đối được thì tha, đối không được ta sẽ đuổi về luôn.
Nói rồi thầy đọc:
Mê chơi, chẳng học, quên lời chị.
Nguyễn Quốc Trinh không cần nghĩ ngợi, đối ngay: Thi đỗ cao khoa, nức tiếng thầy
Tất nhiên là cả thầy, cả chị đều vui vẻ. Quả thực, sau này Nguyễn Quốc Trinh thực hiện đúng lời đối của mình. Ông đỗ Trạng nguyên khoa Kỷ Hợi (1659) triều Lê Thần Tông, sau làm quan đến chức Thượng thư.
Cuộc đời làm quan của Trạng nguyên Nguyễn Quốc Trinh có nhiều mẩu chuyện đặc sắc. Nhưng nổi tiếng nhất là câu chuyện chung quanh một lời phát biểu của ông, trở thành danh ngôn hồi đó. Nhà Lê vào cuối thế kỷ XVII trở đi chỉ là hư vị, mọi việc đều do họ Trịnh chấp chính. Nhưng nhiều ông chúa Trịnh vẫn còn nuôi ý định cướp ngôi vua Lê. Chúa Dương Vương là Trịnh Tạc, muốn thử xem lòng người có phục không, đã sai quân lính đắp một cái đài ở Thăng Long, đặt tên là đài Thu Thiên. Đài đã được dựng cột đào móng, hình thành nên cái khung có vẻ quy mô bề thế. Chúa đến tận nơi xem xét, đem cả Nguyễn Quốc Trinh đi theo. Nhìn quang cảnh đầy triển vọng nguy nga, chúa hỏi:
- Thế nào, ý ông ra sao?
('. Nguyên văn chữ Hán:
Bắt học hiếu du, vị tỉ giáo
Đăng khoa cập đệ, trọng sư danh.
Năm 43 tuổi, đỗ Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ đệ tam danh (Thám hoa) khoa Canh Dần, niên hiệu Khánh Đức 2 (1650) đời Lê Thần Tông.
Làm quan đến chức Lại bộ Hữu thị lang, tước tử. Sau khi mất được truy tặng chức Lại bộ Tả thị lang.
Ý kiến bạn đọc